01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6164)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16752)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5114)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4664)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4750)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Một câu chuyện kể nhân 30-4

20 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 4669)
30-4-1975__1_
Ngày 30 tháng 4 lại lần nữa trôi qua.

Hôm nay tôi xin kể một chuyện thương tâm, ngay sau 30 tháng tư, để chúng ta thấy, không riêng người lính cầm súng chúng ta, nhẫn nhục trong đòn thù của kẻ đắc thế, mà cả vợ con chúng ta, cũng bị lửa hận trút lên đầu. Chúng ta trong nhà tù nhỏ, thì vợ con ta, trong nhà tù lớn, cùng chung gánh oan khiên. Tôi xin ít dòng nói hoàn cảnh tôi trong thời gian đó trước, để thấy liên hệ chúng tôi với người trong câu chuyện sắp kể.

Gia đình tôi cư ngụ tại số 39 Mê Linh Đàlạt, gia đình anh Đặng Thiên Thuần kế bên, hình như số 41 Mê Linh, trên đồi 1541. Được lệnh di tản, gia đình tôi chạy về Cam Ranh vì anh vợ tôi, Nguyễn văn Lộc, hạm trưởng Duyên Vận Hạm 503, cho biết tàu anh có lệnh sẽ ghé Cam Ranh. Vả lại, bà xã tôi lúc đó sắp đến ngày sanh, nên không thể chạy đường bộ về Saigon . Ngày 30 tháng tư, từ Saigon, tôi phải quay lại Cam Ranh, vì Duyên Vận Hạm 503 đã không thể cập bến Cam Ranh như dự tính. Nếu không, bà xã tôi đã về được Sài gòn, chắc chắn gia đình tôi cũng cuốn gói đi như ai rồi. Phải sống hơn 6 năm trong tù nhỏ, và 9 năm lây lất trong nhà tù lớn XHCN, không phải vì tôi có hùng tâm dũng khí, mà vì lúc đó chưa hiểu rõ Cọng Sản là gì, và hoàn cảnh bắt buộc đó thôi. Bây giờ, tôi xin vào chuyện chính. Thuần và chúng tôi vào tù, người dân thường, có lệnh phải trở về địa phương cũ.

Do mới sinh (30 tháng 6/75), bà xã tôi phải chờ cháu cứng cáp chút. Lúc nầy, cán bộ địa phương đã biết cách làm tiền, nên muốn có giấy phép, bà xã tôi phải bán cả gia sản. Nói là bán, nhưng xem như thí cô hồn. Giao chiếc Vespas Spring, lấy một trăm đồng và tờ giấy phép của Công An Ba Ngòi cho về nhập lại Đà lạt. Bà xã tôi về đến Đàlạt với 5 đứa con dại, đứa lớn 10 tuổi, út đầy tháng. Lại không nhà không cửa. Căn 39 Mê Linh đã có bộ đội đến ở. Bả cậy người quen ở Chi Lăng vào xin lại một ít đồ đạc của mình cũ, nhưng không được. Mẹ con đành dắt díu nhau vào ấp Thái Phiên, tạm trú nhà một người quen. Chị Thuần nhờ về sớm, được tạm thời trở lại dạy học ngoài biên chế vì thiếu giáo sư. Chị được tạm trú nhà cũ tuy không biết bị đuổi đi lúc nào. Và cũng chưa được cấp sổ mua lương thực, một sổ quan trọng ngang với hộ khẩu. Để biết sổ lương thực tại Đàlạt lúc đó quan trọng như thế nào thời điểm nầy, tôi xin kể chuyện về cậu con trai cả của tôi.

Nghe con đau bụng, bà xã tôi khám thấy hố chậu phải nó cứng và kêu đau, biết con bị viêm ruột thừa, nên đưa con đi gấp vào Bệnh Viện Đàlạt. Nhờ có hộ khẩu, nên được nhận, với điều kiện phải đóng trước phần lương thực một tuần cho con. Nhà chỉ lãnh khoai và bắp, lấy đâu ra gạo đóng. Mua thì không ai bán, chạy quanh các nhà quen mượn, khắp cả cây số bốn, số sáu, mà chỉ gom được chưa tới một phần ba số Bệnh Viện đòi hỏi. Phải năn nỉ họ mới tạm nhận một phần bắp qui ra gạo. Bác sỉ Trưởng Khoa Ngoại lúc đó là Bác sĩ Chính, đứng ra phụ trách case phẩu thuật. Với điều kiện thân nhân phải chạy mua cho ra chỉ may. Bác sĩ Chính, theo dân Đà lạt truyền miệng, thì nghề chính của ổng là nuôi và thiến heo, mổ người chỉ là nghề tay trái. Nên con tôi, bác sĩ mổ xẻ sao không rõ, vết sẹo mổ của nó hiện nay là một chữ thập to tướng và nhăn nhúm như vết một quả B40 bắn trúng. May nó là con trai, không cần đẹp. Theo lời một y tá quen kể với bà xã, ban đầu chỉ một vệt cắt ngang ở vị trí “thoát vị bẹn”, tìm không ra ruột thừa. Vết thứ hai vạch đứng từ háng lên khỏi rún đế quyết tâm kiếm cho ra. May quá cuối cùng cũng tìm thấy. Chỉ tiếc lúc kéo ra, không may làm nó vỡ, phải rửa trước khi may lại, và phải đưa vào phòng hồi sức gần một ngày nằm chờ tỉnh. May cháu mới hơn 10 tuổi, còn sức để chịu đựng. Vừa tỉnh, cháu được lệnh rời bệnh viện sau khi được hoàn trả hai ngày lương thực bằng bắp. Thằng bé vừa từ phòng hồi sức ra, vai mang mấy ký bắp, bị bỏ một mình.

Một mình chống gậy lê từng bước từ Bệnh Viện Đa Khoa, vòng xuống cầu Bá Hộ Chúc, băng qua Hoàng Văn Thụ, leo dốc lên Viện Pasteur, trụt xuống một dốc núi Sòng Sơn. Mấy ký bắp vẫn giữ chặt vì biết giá trị của cái ăn lúc đó. Dùng lương thực để cai trị và điều khiển con người quả thật hiệu quả. Vì cần cái sổ gạo, chị Thuần lặn lội ra tận Bùi Thị Xuân để xin dạy. Và trong khi đứng giảng bài trên bục, chị ngã xuống bất tỉnh. Người ta tìm cách đưa chị về Chi Lăng, giao cho mấy đứa con, dù chúng ở trong căn nhà vắng trên lưng chừng đồi, và chưa đứa nào đến tuổi hiểu biết. Sáng hôm sau, một số dân từ ấp Thái Phiên đi ra chợ Chi Lăng, băng qua đồi Hướng Đạo, nghe tiếng kêu khóc của con nít trong nhà chị Thuần, mới vào xem. Khám phá chị Thuần đã tắt thở từ bao giờ, mấy đứa nhỏ khóc thét cạn hơi, có đứa ngất đi bên cạnh mẹ. Cũng cần cái sổ mua lương thực, lúc nầy bà xã tôi cùng 5 con đã lặn lội vào rừng, khai phá rẫy trong Sòng Sơn, có đất để khai báo, mới xin được vào Hợp Tác Xã Nông Nghiệp.

Chị Thuần đã chết đi, buồn thay, là cái sổ gạo, niềm hi vọng vẫn chưa thấy. Lúc chị mất, có người phải chạy ra chợ mua tạm ít thức ăn về cứu mấy đứa bé, vì trong nhà không thể nào tìm thấy hột gạo, củ khoai, lát sắn nào. Ủy ban Nhân Dân gởi thỉnh vọng lên Trung Ương, xin cho cha mấy đứa nhỏ, trong trường hợp nầy, được về nuôi con. Họ cho người đến Quảng Ngãi, quê anh Thuần để kiếm thân nhân lo cho chúng. Phải hơn hai năm trời, anh Thuần mới được cứu xét cho về, với điều kiện phải bị quản chế vô thời hạn tại Quảng Ngãi. Chuyện chị Thuần đủ nói lên tại sao chúng ta không thể hòa hợp hòa giải với những con người còn tôn thờ chế độ Cọng Sản. Buồn quá phải không các bạn.
Thân mến.

Nguyễn Cửu Nhồng
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn