01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5673)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16347)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4818)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4396)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4528)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Tháng tư: Vẫn còn trong tôi một ngậm ngùi nỗi nhớ

22 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 3740)
144-chude-hvxn_t__ch_c_tr_i_h_p_m_t_mua__ong_tu_i_tr__bao_tu_i_ng_c_n_m_1983-content
Trại Họp Mặt Mùa Đông Tuổi Trẻ báo Tuổi Ngọc năm 1983

Tháng Tư lại về. Cứ thế đã là đúng bốn mươi lần tháng Tư của những ngậm ngùi nỗi nhớ đến với tôi. Nỗi nhớ về một lần ra đi, lìa bỏ quê nhà. Nỗi xót xa cứ kéo về khi tháng Tư đến, nhắc nhở một tháng Tư đen tối nhất của một đời làm người Việt Nam.
Lần thứ nhất, ngày 27 tháng 04 năm 1975 là ngày cuối cùng tôi còn ở với thành phố mang tên Sài Gòn. Ban ngày vừa còn sôi nổi với bạn bè cùng lớp, cùng trường, vẫn còn buổi đi học nhưng bạn bè cứ bàn nhau tán tụng sôi nổi về tình hình của chiến tranh, về chuyện đứa này đứa kia. Hình như gia đình nó đi rồi, ý nói những chuyến bay đang đưa người ra khỏi đất nước miền nam, trốn chạy những người hình như sẽ đen tối lắm sắp đến trên đất nước này. Bạn bè tuổi mười sáu, mười bảy, nhưng chiến tranh đã làm khôn hơn tuổi nhỏ, đã biết vận bàn chuyện thời sự đất nước mình. Sách vở cầm trong tay, nhưng trí óc lo xa, chập chùng một hình ảnh tương lai không rỏ ràng đang đến rất gần.
Mới buổi trưa tôi còn vội vả ra về trong áo trắng quần xanh học trò, vẫy tay hẹn bạn bè ngày mai. Ban đêm hôm đó, Ba tôi về nhà, hối thúc cả gia đình phải lập tức theo Ba ra sân bay đêm nay. Ba lái xe jeep đưa cả nhà vào phi đạo phi trường quân sự Tân Sơn Nhất, bước lên chuyến bay của quân chủng Không Quân VNCH, với hàng trăm người đã có mặt bên trong. Ba ở lại với nhiệm sở, vẫy tay và hôn mẹ con chúng tôi tạm biệt. Đôi mắt Mẹ tôi lo lắng nhiều, như muốn khóc. Tôi con trai lớn nhất trong nhà, bàng hoàng thẫn thờ không biết nói gì, chưa biết nghĩ gì, chẳng định được một điều nào phải làm sắp đến. Bên ngoài đạn pháo nổi, tiếng gầm thét của những chuyến bay đêm đang tảo giặc miền Bắc, đang chận đứng đoàn quân cộng sản đang tiến về thành phố. Tôi nhìn qua cửa sổ nhỏ máy bay, Sài Gòn đèn màu vẫn lấp lánh một trời đêm, đang dần dần xa biệt nhỏ hơn trong tầm mắt.
Đó là tháng Tư ngậm ngùi đầu tiên trong cuộc đời tôi. Chưa biết tình yêu quê hương là gì, cảm nhận sẽ ra sao. Chỉ biết đêm nay sao buồn quá. Lo ít hơn, buồn nhiều hơn, cảm giác có những điều đau đớn lòng cho dù tôi chưa đến 17 tuổi lúc đó. Nỗi nhớ thấp thoáng trong lòng, mênh mông một vùng trời kỹ niệm. Tôi ôm lấy vào lòng, cố gắng mang theo hết kỹ niệm, chỉ bỏ lại tất cả những hành trang vật chất.
Chúng tôi đã đến Côn Sơn, một hải đảo đang chỉ là một trại tù giam tù binh cộng sản của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm gia đình của những người lính Không Quân miền nam được đưa đến đây. Những người lính Không Quân vẫn giữ lời thề với non sông, với phù hiệu quân chủng. Họ chỉ đưa gia đình, vợ con của đồng đội, đến nơi đảo an toàn này, rồi bay trở về, đón tiếp thêm những đoàn người khác đang chờ đợi ra đi. Nhiệm vụ của họ là đưa gia đình thân nhân các quân nhân của quân chủng Không Quân VNCH ra đi, còn họ sẽ ở lại tiếp tục chiến đấu. Xong những chuyến bay, họ quay về lại phi đạo, súng đạn vẫn đeo, áo bay phi công vẫn mặc, đợi chờ giờ sống chết với quân thù. Ba tôi cũng trong đoàn người chiến sĩ kiêu hùng đó, tuân lệnh chờ đợi đến giờ cuối, chờ đợi một lệnh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.
Sáng ngày 30 tháng 04. Trên đảo Côn Sơn, chỉ có đàn bà và trẻ con. Thân nhân của những người lính chiến miền Nam đang lo âu chờ đợi tin tức, chờ đợi tin chồng, chờ đợi một chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc. Rồi từ máy phát thanh, nghe lệnh ông tổng thống tạm quyền bất hiến Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng kẻ thù miền Bắc, ra lệnh cho những người lính miền Nam Việt Nam Cộng Hòa buông súng. Mọi người bàng hoàng. Không ai nghĩ đến một lệnh đầu hàng. Không ai nghĩ đến một điều hèn nhát phải buông súng, cởi bỏ áo trận chiến binh. Mọi người ở trên đảo này, hay những ông chồng cha đang còn ở lại thành phố, đều chờ đợi một cuộc chiến giờ phút cuối cùng, máu sẽ đổ, và họ sẽ ngã gục dưới ngọn cờ vàng ba sọc đỏ một cách anh hùng oai dũng cho chính nghĩa đất nước miền Nam. Bây giờ lệnh trên ban xuống, đau lòng và bức tử những người lính dưới quyền. Lệnh phát ra trên làn sóng phát thanh của ngày 30 tháng 4, những người dân miền nam đang chờ đợi ở trên hải đảo Côn Sơn này nhìn nhau tái tên, nhiều giọt nước mắt tuôn trào.
Thế rồi một ngày đau thương xảy ra. Suốt ngày 30 tháng 04, nhiều chuyến bay vội vã bay từ Tân Sơn Nhất vẫn đổ xuống hải đảo. Những người phi công Việt Nam Cộng Hòa cố gắng đón đưa những gia đình đồng đội ra khỏi thành phố đang vẫn còn bom đạn và tiếng quân hò kẻ thù đang ngạo nghễ kéo vào. Thêm nhiều gia đình được đưa đến vào giờ cuối. Nhiều sĩ quan Không Quân VNCH đáp theo các chuyến bay. Nhiều người gặp lại vợ con ở đây. Nhiều người bỏ lại vợ con còn kẹt trong thành phố. Mọi người trên đảo chưa biết số phận ra sao. Có những tiếng bàn tán nhau, hình như bên kia dãy núi các trại tù giam quân cộng đã bỏ cửa, tù bình đã ùa ra khi phe họ vừa nhận chiến thắng. Chẳng mấy chốc, họ sẽ qua đến bên này núi. Mọi người lo lắng. Những chuyến bay đáp xuống trên sân bay quân sự nhỏ của hải đảo lại chuẩn bị cất cánh. Những người có chồng, cha vừa đoàn tụ, thì lên máy bay đi khỏi đảo. Họ hình như bay đi Thái Lan, bởi vì nhiều chuyến bay Không Quân VNCH đang bay về nơi đó, người Mỹ đón họ tỵ nạn. Còn lại những người đàn bà và trẻ con, mà chồng cha dù cũng là những sĩ quan không quân, nhưng giờ đang còn kẹt ở Tân Sơn Nhất hay đơn vị hay đang lạc ở nơi đâu. Những người đàn bà và con cái này, ngồi nhìn nhau sợ hãi và thất vọng. Họ tủi thân khi bị những người đồng đội của chồng, cha họ bỏ rơi họ ở lại đây, tự mình đối phó với cơn giông bão cuộc đời đang kéo tới.
May thay, bên ngoài khơi biển cả, có bóng dáng của những chiếc tàu to lớn, rồi những chiếc tàu nhỏ, ca nô vào đến bờ biển hải đảo. Họ là những người thủy thủ trên những chiếc thương thuyền của người Phi Luật Tân đang được Hải Quân Hoa Kỳ thuê để vào bên trong bờ biển Việt Nam, đón những gia đình người lính VNCH đang trên đảo chờ đợi. Chúng tôi, đàn bà và những thanh thiếu niên tuổi nhỏ, lội biển lên những chiếc ca nô, tàu nhỏ để được đưa ra tàu lớn. Rồi chiếc tàu lớn này lại đưa chúng tôi ra hải phận quốc tế, nơi có một đoàn tàu của hạm đội Hải Quân Hoa Kỳ đang chờ đón. Chúng tôi được đưa lên tàu hạm đội Mỹ. Tàu lớn, những chiếc trực thăng của Không Quân Miền Nam đáp xuống, những người sĩ quan phi công trẻ tuổi nhảy xuống, rồi các lính Mỹ đẩy xô những chiếc trực thăng đó xuống biển. Từng chiếc này đến chiếc khác. Họ không cần những chiếc máy bay này nữa. Họ chỉ đón người. Chiếc tàu chỉ để dành chỗ cho những người miền Nam tỵ nạn cộng sản đi đến với người Mỹ tìm một tự do.
Tôi chứng kiến những người phi công miền Nam phải tháo bỏ súng đạn, quăng hết xuống biển. Họ không còn là người lính chiến đấu cho miền Nam thân yêu tự do nữa. Họ vừa bị tước bỏ quyền chiến đấu trên chiến trường. Quân phục bay vẫn còn mang trên người. Nhưng những đôi mắt buồn thảm, đau nặng một nỗi niềm uất ức vẫn có thể đọc thấy trên từng khuôn mặt của những người lính bay. Họ là những người còn rất trẻ, tuổi hai mươi ba mươi đang ngạo nghễ trên vùng trời không gian quê hương, đã trút biết bao nhiêu bom đạn xuống đoàn quân thù cộng sản, đang say sưa những chiến thắng, đang hào hùng trong một cuộc chiến, đang tự hào với người dân miền Nam. Giờ đây, bỗng nhiên họ bị lột hết súng đạn, hai tay trắng không chờ đợi một cuộc đời mới ở một chân trời mới, không ai đoán được sẽ như thế nào. Những người lính bay miền Nam, những thân nhân người lính bay miền Nam, trên chuyến tàu của hạm đội hải quân Hoa Kỳ, cùng ôm nhau khóc.
Họ đã khóc cho quê hương đang xa dần một góc trời đằng kia, từ từ khuất mất không còn thấy nữa. Lúc đó, trong thâm tâm chúng tôi, có lẽ quê hương đó không bao giờ còn gặp lại nữa. Không ai đã nghĩ đến có ngày trở về. Những tiếng vĩnh biệt quê hương bật ra trong tiếng khóc, trong giọt nước mắt, hay tiếng thê thảm gọi tên chồng tên cha của những người thiếu phụ, những người con trẻ trên tàu không có chồng, cha bên cạnh.
Có những người phi công trẻ, mắt đằng đằng một hận thù, đứng mãi trên bong tàu mắt vẫn cứ nhìn về cuối trời nơi có quê hương. Hình như họ vừa thề với lòng mình, họ sẽ quay về trong một ngày có chiến đấu, có chiến thắng vinh quang. Những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn không bỏ cuộc. Cuộc chiến vừa ngừng, những sự chiến đấu của những người lính này vẫn không chấm dứt. Ngày hôm nay, sau 39 năm, nhiều người lính này đã tuổi già sức yếu nhưng lòng chiến đấu vẫn cương quyết vững mạnh. Nhiều người nay đã ngồi xe lăn hay chậm từng bước đi vì sức khỏe tuổi già đang bắt đầu phế hủy thân xác, nhưng tay họ vẫn khỏe mạnh cầm những lá cờ vàng ba sọc đỏ tiếp tục bước đường đấu tranh khi họ tháp tùng tham gia những đoàn người đấu tranh tiếp tục đòi lại một chính nghĩa tự do dân chủ cho người còn ở lại.
Trên tàu biển tháng Tư năm 1975 đó, tôi đã nắm tay người yêu bạn gái nhỏ, nhìn những người lính đồng đội với Ba tôi đang buồn bã một cảm giác của người bị ép thành chiến bại, chúng tôi lúc đó thương cảm và hiểu lắm. Lúc đó, tâm trạng tôi cũng đau xót khi chờ mãi tin cha mình, vẫn chưa hay biết giờ ra sao. Mẹ tôi thì khóc thầm, lo lắng quá, trông đợi tin chồng. Khi màn đêm buông xuống trên biển cả, đứng trên bong tàu nghe tiếng sóng biển kéo nhau, tôi buồn bả. Chợt nhớ quê hương, giờ hình như chỉ mới có một ngày, mà nỗi nhớ đã thấm rồi. Chợt nhớ bạn bè trường lớp, chưa kịp một lời giã từ đứa nào, tao đi mày ở lại bình an nhé, nên chắc có lẽ giờ bạn bè đang lo lắng tìm nhau tin tức trong một ngày đất nước đang rất hỗn loạn thế này.
Những ngày trên tàu ra đi, tôi nhìn biển suy tư nhớ quá khứ bạn bè, nhưng tôi đã không thể ngờ biển Đông lớn này sẽ là mồ chôn của hàng triệu người dân tôi những năm sau này. Những cuối thập niên 70 rồi thập niên của 80, khi làn sóng người Việt vượt biển trốn chạy cộng sản đi tìm tự do ở quê người. Biển đã chôn thây biết bao nhiêu thuyền nhân Việt Nam. Biển đã là mồ chôn biết bao người dù đã biết ra đi thập tử nhất sinh, nhưng vì hai chữ Tự Do vẫn quyết đi con đường lắm sự chết này. Rồi những người sống sót còn lại, đã vất vả lao tù đợi chờ ở những trại tỵ nạn vùng đông nam á, khi tưởng rằng nơi đây là ngưỡng cửa thiên đường của tự do. Nhưng ở ngưỡng cửa thiên đường này, nhiều đồng bào tôi đã vẫn còn phải trả nợ quá đắt, trước khi vào trong thiên đường. Máu và nước mắt đã đổ trên hành trình biển đông. Máu và nước mắt đã vẫn đổ khi đến những ngưỡng cửa thiên đường, tức những trại tỵ nạn nước Thái, Mãi Lai Á, Nam Dương, Hồng Kông, Phi Luật Tân, v.v. Tôi đã đâu biết lúc đó hồi tháng Tư năm 1975, tôi đã ra đi tuy buồn bã nhưng đã rất phước hạnh và sung sướng so với đồng bào tôi khi vượt biển về sau này.
Sau ba ngày trên biển, chúng tôi đến vịnh Subic Bay căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân. Từ đây, chúng tôi lần lượt được đưa đến tạm cư ở đảo Guam hay đảo Wake, là những trung tâm trại tạm cư người tỵ nạn mà chính phủ Hoa Kỳ thiết dựng cả tháng nay. Nhiều cảnh đoàn tụ gia đình đã xảy ra, khi chồng vợ cha con gặp lại nhau ở đảo. Nhiều cảnh người khóc tìm đợi tin nhau ngày này sang ngày khác vẫn biền biệt tin chồng tin cha. Gia đình tôi may mắn gặp lại Ba tôi trên đảo Guam. Tôi lạc mất người yêu khi những gia đình được đưa đẩy đến những trại tỵ nạn khác nhau. Buồn lại buồn hơn.
Thế rồi, tháng Tư đó đã qua rồi. Năm 1975 đó đã qua rồi. Sau khi tạm cư ở trại tỵ nạn đảo Guam, trại tỵ nạm Pendleton California, rồi được các nhà thờ người Mỹ bảo trợ định cự ở Bakersfield thời gian ban đầu. Năm sau đó, gia đình chúng tôi dọn về Long Beach, khi tôi theo học đại học Long Beach. Tôi bắt đầu tham gia vào những sinh hoạt với cộng đồng người Việt. Ban đầu với hội sinh viên Việt Nam trường đại học California State University at Long Beach. Từ ban báo chí của hội sinh viên với tờ đặc san Biển Dài hằng năm, rồi ban tổ chức hoa hậu áo dài Long Beach những năm đầu tiên. Tôi hiện diện cùng với cộng đồng người Việt vùng Nam California từ những năm 1976, 1977 lúc đó. Tôi mê viết văn, viết báo, nên cùng bạn bè làm nên những ấn phẩm văn chương cho tuổi trẻ sinh viên học sinh. Ban đầu là tuyễn tập thi văn Hoài Cảm I, II, và III. Rồi tờ báo Trẻ đầu tiên cho giới trẻ Việt tại Hoa Kỳ, rồi tờ báo Phụ Nữ của giáo sư Lưu Ngọc Bích với nhà thơ Nguyên Sa chủ bút, đến tờ báo Tuổi Ngọc do tôi sáng lập. Những đại hội hay những kỳ trại thanh niên sinh viên học sinh ở khắp miền nam bắc California qua đến Houston Texas hay đến Arlington Virginia rồi qua Seattle Washington. Tôi thấy mình có bổn phận cần tham gia cộng đồng. Tôi lớn theo cộng đồng, khi chứng nhân với những sự trưởng thành nhanh chóng của cộng đồng người Việt khắp các nơi đất nước Hoa Kỳ. Tôi đã hãnh diện mình là một phần tử của cộng đồng người Việt. Thậm chí, niềm tin và sự hăng say của một tuổi trẻ vẫn còn yêu quê nhà Việt Nam tha thiết đã khiến tôi cùng tham gia hợp tác sinh hoạt cùng những người trẻ khác đang đấu tranh ở hải ngoại nhưng cho đất nước ở bên kia biển lớn.
Mãi cho đến bây giờ, nhìn lại một thời đã qua, những năm tháng của suốt 39 năm một đời người Việt hải ngoại, tôi vẫn tự hào với cộng đồng của mình. Vẫn tự hào là một người gốc Việt. Vẫn tự hào về một đất nước vẫn còn những người nhất định đòi hơi thở quyền sống con người. Vẫn tự hào khi nhìn thấy những người cha chú chiến sĩ miền nam ngày xưa nay vẫn còn nuôi nặng một hận thù chung để làm hận thù riêng, và vì thế mà cuộc đấu tranh vẫn còn mãi mãi không ngừng. Vẫn còn tự hào hôm nay, khi nhìn thấy một cộng đồng đã lớn mạnh quá nhanh, có nên một quyền lực chính trị không thua một cộng đồng bạn nào đã đến Mỹ lâu đời hơn. Vẫn còn tự hào khi nhìn thấy những người trẻ tuổi, dù đã không sinh ra ở quê nhà Việt Nam, dù tiếng Việt nói không rỏ chữ, nhưng vẫn có một tâm hồn Việt Nam rất thuần túy tình yêu dân tộc. Giòng máu người Việt yêu quê hương khác nhiều hơn giòng máu người Mỹ đối với quê hương họ. Giòng máu người Việt có nhiều can đảm, dám anh hùng đấu tranh, thời gian không làm mệt mỏi để họ bỏ cuộc. Giòng máu đó vẫn còn luân lưu trong trái tim những người tuổi trẻ gốc Việt hôm nay.
Tôi hãnh diện đã là một người Việt Nam. Tôi hãnh diện vì biết mình vẫn còn là người Việt Nam dù sau 39 năm dài. Tôi đã sinh ra nhưng chỉ sống ở quê nhà Việt Nam chưa đến 17 năm thì ra đi lưu vong xứ người. Tôi đã sống và dựng nên một sự nghiệp đời người ở nước Mỹ này suốt 39 năm qua. Vậy mà tôi vẫn chỉ nói, vẫn chỉ hiểu tiếng Việt nhiều hơn tiếng Mỹ. Tôi vẫn phát âm tiếng Mỹ với một âm hưởng có mùi nước mắm quê hương, nên người Mỹ nhiều khi vẫn không thể hiểu được mình nói gì. Tôi suốt một đời 39 năm ở nước Mỹ, vẫn không có mấy người bạn Mỹ là bạn. Ít ơi là ít, những ngón tay đếm vẫn còn nhiều hơn số bạn Mỹ đã thân quen. Suốt 4 năm ở giãng đường đại học Long Beach, không thân được một thằng bạn con bạn Mỹ nào, mà bạn bè thuở trung học ở quê xưa đã hơn 45 năm vẫn còn thân còn nhớ nhau từng đứa một. Dường như, tôi không thể là người Mỹ dù đang mang thông hành người nước Mỹ, dù hằng năm vẫn đi bỏ phiếu bầu cử cho bổn phận công dân nước Mỹ.
Hai chữ Việt Nam vẫn là đầu môi chót lưỡi tôi. Bài quốc ca nước Mỹ đã nghe ngàn lần rồi mà vẫn chưa thuộc câu lời nào, trong khi bài quốc ca Này Công Dân Ơi... vẫn thuộc làu, vẫn thấm thía rung cảm cả người khi nghe mọi người hát, khi cất tiếng cùng cộng đồng trước lá cờ vàng ba sọc đỏ.
39 năm thời gian không đủ, chẳng bao giờ đủ, cho tôi thay đổi một bản chất dân tộc. Không chỉ là tôi, có lẽ có hơn 2 triệu người Việt ở hải ngoại cũng như thế.
Tháng Tư lại về, tôi lại ngậm ngùi một nỗi nhớ. Từng kỷ niệm ngày ra đi, kỷ niệm trên biển cả, kỷ niệm sống làm người tỵ nạn trong trại tạm cư, kỷ niệm bắt đầu một cuộc đời mới với nước Mỹ. Không quên được, dù trí óc đã già nua theo tuổi tác. Nhiều chuyện cuộc đời đã quên. Nhiều người mình đã quên. Nhưng ký ức về quê nhà, thời bỏ quê hương mà đi, thời ở quê người mà nhớ quê mình, cứ vẫn còn hoài. Còn hoài và còn mãi trong trí tôi của những ngày bắt đầu một sức khỏe lú lẫn hôm nay.
Tháng Tư. Vâng, vẫn là một tháng Tư Đen. Không thể là tháng Tư của những chào mừng kỷ niệm chiến thắng như giờ này đang chuẩn bị trong nước. Tháng Tư ở đây, cờ vàng ba sọc đỏ giăng đầy phất phới ngạo nghễ những đường phố của Litte Sài Gòn. Little Sài Gòn của quận Cam, hay ở San Jose, San Diego, hay Seattle, hay Arlington, hay Houston, hay Dallas, hay Paris, hay Sydney, hay Toronto,..v.v.. đều đang ngạo nghễ những cờ vàng ba sọc đỏ tung bay. Từng người và từng người tỵ nạn cộng sản, dù hôm nay là gì, là ai, vẫn sẽ bước đi trên những con đường này với lòng kiêu hãnh. Họ vẫn tự hào về thân phận làm người tỵ nạn, vẫn cao ngạo ngẩng đầu cao về những cuộc đấu tranh không tàn ngọn lửa, của dân Việt hôm nay. Những cuộc chiến đấu có chính nghĩa, thì không bao giờ thất bại. Chiến tranh có chấm dứt, nhưng đấu tranh không bao giờ ngưng.
Tháng Tư, vẫn còn trong tôi ngậm ngùi một nỗi nhớ, từ một tháng Tư của 39 năm về trước.
Hồ Văn Xuân Nhi
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn