01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5806)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16508)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4914)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4503)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4616)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

40 Năm nhìn lại

30 Tháng Giêng 201512:00 SA(Xem: 1738)

pnn-4-content

Giới trẻ Việt Nam Hải ngoại tổ chức Hội Tết Sinh viên tại Little Saigon, Thủ đô Tỵ nạn CS của người Việt.


Cho dù người có tưởng tượng mạnh mẽ và lạc quan đến bao nhiêu, người Miền Nam trong buổi sáng ngày 30 tháng 4, 1975 không thể nào có ý nghĩ: Sẽ sống sót được với chế độ mới! Hầu như mọi người (điển hình với tập thể đông đảo của Miền Nam bao gồm quân nhân, viên chức của chính phủ, quân đội VNCH), cụ thể với thành phần xã hội, những người đã thấm hiểu cộng sản là gì từ trước 1954 ở Miền Bắc, và sau 1954 nơi Miền Nam, đối mặt trực tiếp với phía cộng sản trong chiến tranh - Tất cả đều có cảm giác đang chạm vào cái chết có thật. Lẽ tất nhiên loại trừ đám nhân sự thuộc lực lượng gọi là “Mặt trận giải phóng/Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam” nơi bưng biền miền rừng vùng đông Nam Bộ; nhóm hoạt đầu thành phần thứ ba, phong trào đòi quyền sống, lực lượng thanh niên học sinh, sinh viên (ngụy danh) yêu nước... Nghĩa là tất cả đám phường tuồng nơi Sài Gòn - Những kẻ tập chơi trò chính trị với cộng sản bằng sinh mệnh Miền Nam - Giai tầng chính trị-xã hội gọi là “cách mạng thiên cộng” mà nay 40 năm sau hiện nguyên hình là đám người thảm hại, khốn cùng nhất bởi đòn tráo trở của đảng cộng sản.

Ngoại trừ đám người múa rối tay mơ vừa kể ra có thể nói toàn bộ xã hội Miền Nam chìm dần xuống cơn hấp hối với câu hỏi khắc nghiệt: Làm sao có thể sống được với cộng sản - Việt cộng/Cộng sản Việt Nam? Nhưng rồi Phép lạ đã xảy đến: Người Việt Miền Nam phá thân qua sóng biển - Vượt đường bộ ngàn dặm hiểm nguy - Băng qua sự chết... dần xây dựng nên một Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại mà cộng đồng nơi đất Mỹ là cột trụ chính thống để sẽ có một ngày - Một ngày Việt Nam bừng sáng trên quê hương như sắc Cờ Vàng đã vinh hạnh gìn giữ, phát huy trên toàn thế giới.

Trong tác phẩm nổi tiếng The Gulag Archipelago (Quần Đảo Gu Lắc) đại văn hào Nga Solzhenitsyn (1918-2003), đã cùng tổ quốc chịu đòn cộng sản Liên Xô từ đầu thế kỷ 20 đã đặt vào trang đầu tác phẩm câu nói của một cô gái người xứ Hutzul như sau: “Chỉ những người cùng ăn một cái bát với chúng ta mới có thể hiểu được chúng ta - Only those can understand us who ate from the same bowl with us”.

Nguyễn Du cũng có một câu tương tự: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Nói như vậy để khẳng định rằng, trong một phạm vi nào đó, chỉ những người đã nếm mùi lao tù của chế độ cộng sản, nhất là sau ngày 30/4/75 mới hiểu và thông cảm những suy tư và hành động của nhau dù họ trải qua trại tù ở Bắc hay trong Nam hay nơi những thành thị, nông thôn miền Nam dần bị “Cộng sản/Hà Nội hóa”.

Trong một cuộc họp nội bộ sau 1975, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Hà Nội đã nói nên lời: “Đối với các viên chức và quân đội ngụy quyền, chúng ta không nên giết để mang tiếng với thế giới. Chúng ta chỉ cần cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều. Như thế thì cũng đủ giết chúng rồi.” Hoặc nói huỵch toẹt ra theo kiểu du côn Nam Bộ của Bảy Trấn: “Nhà cửa của chúng, chúng ta lấy; vợ con bọn chúng, chúng ta xài!”

Bảy Trấn không chỉ nói suông tại năm 1975, bởi trong thời kỳ biến động 1945, kinh rạch vùng Chợ Đệm, ngoại ô Sài Gòn đã thấm bao nhiêu máu người vô tội từ một tay của Bảy Trấn! Nhưng Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Trường Chinh ngoài Bắc, hay Bảy Trấn, Mười Cúc, Sáu Kiệt... trong Nam đều không lường được một điều: Người Miền Nam/Người tù Miền Nam, rất nhiều Công Dân Việt Nam Cộng Hòa đều giữ được tư cách, bản lãnh của mình và họ đã có cách trả thù xứng đáng nhất qua sự kiện: Chế độ cộng sản Việt Nam đã được tồn tại nhờ vào đồng tiền Ngoại Hối của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại!

Theo số liệu của Ngân Hàng Thế Giới, tổng số ngoại hối gửi về Việt Nam qua đường chính thức tương đương 11 tỷ USD trong năm 2013, chiếm khoảng 6.4% tổng sản lượng (GDP) trong nước. Nhóm Triển Vọng Ngân Hàng Thế Giới cập nhật tháng Tư 2014 nêu lên con số chính xác: Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ chuyển về Việt Nam 5.7 tỉ USD trong năm 2012. Hóa ra “bọn người phản bội tổ quốc bỏ nước ra đi” từ sau ngày 30 Tháng 4, 1975 kia lại là nguồn cứu sống cho một nền tài chánh quốc gia mà lượng nợ công lên tới 88.055 tỷ vào năm 2013, tức là tăng thêm 12.610 tỷ so với năm 2012. Nhưng cách “báo thù cao thượng” của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại không ngừng ở đấy - Người Việt Hải Ngoại còn là bừng sáng hy vọng cho cả Việt Nam ở tương lai.

Trong gần bốn mươi năm qua, từ một nhóm nhỏ, cộng đồng người Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ đã phát triển thành một trong những nhóm cư dân sinh ở nước ngoài lớn nhất nước Mỹ. Cần nhắc lại sự kiện, Người Việt di cư sang sang Hoa Kỳ trong ba đợt:

Đợt đầu tiên vào cuối Tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn sụp đổ. Trong cuộc di tản do Mỹ tổ chức này có khoảng 125,000 người tị nạn thuộc nhóm đầu tiên. Đợt tị nạn đầu tiên này phần lớn gồm nhân viên quân sự, chuyên viên ở vùng đô thị, những người đã làm việc với quân đội Mỹ hay nhân viên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Đấy là mục tiêu đầu tiên nhắm tới bởi sách lược tàn sát của cộng sản - Lập lại hình thái của Mậu Thân Huế, 1968 nhưng quy mô và tàn khốc hơn.

pnn-1-content

Cuộc biểu tình của SV Việt Nam tại Paris ngày 27/4/75, ba ngày trước khi Saigon sụp đổ, lúc đó trong nước vẫn chưa biết Đất nước sẽ đi về đâu, nhưng tại Âu châu, nhất là tại Pháp mọi người đã biết số phận của VNCH. Các bạn sinh viên Việt Nam đều để tang cho dân tộc, đất nước. Lá Đại kỳ VNCH được các bạn trẻ rước đi trong bùi ngùi khắp các nẻo đường quận 13, Paris.

 

Tiếp theo, vào những năm cuối của thập niên 1970 là làn sóng tị nạn thứ hai của người Việt tị nạn đến Hoa Kỳ. Đợt tị nạn này đã trở thành cuộc khủng hoảng “Thuyền Nhân” đánh động lương tâm của toàn thế giới. Nhóm người tị nạn lần này phần lớn là dân chúng khắp các vùng nông thôn, thành thị Miền Nam, những người đã thấm hiểu thực tế thế nào là chế độ cộng sản từ sau ngày 30 tháng 4, 1975; số lớn người tị nạn của đợt này là người gốc Hoa chạy trốn cuộc đàn áp ở Việt Nam, cụ thể là vùng Sài Gòn, Chợ Lớn.

Làn sóng tị nạn thứ ba vào Hoa Kỳ xảy ra trong những năm 1980 và 1990, đợt này không giống như hai đợt tị nạn trước, có một thành phần tị nạn gồm hàng ngàn người con lai Việt Nam (con của quân nhân Mỹ với những bà mẹ người Việt cùng các tù nhân chính trị được thả ra từ các trại cải tạo và gia đình họ).

Qua ba đợt tị nạn kể trên, cư dân Việt Nam tại Hoa Kỳ đã tăng lên đáng kể, từ khoảng 231,000 người của năm 1980 lên đến gần 1.3 triệu người vào năm 2012, trở thành nhóm dân nhập cư Mỹ (gốc sinh ở nước ngoài) lớn thứ sáu tại Hoa Kỳ. Tính đến năm 2012, di dân người Việt chiếm khoảng 3% tổng số dân nhập cư Mỹ trong tổng số 40.8 triệu người đến đất Mỹ từ nước ngoài. Việt Nam là nhóm cư dân Mỹ gốc Á Châu lớn thứ tư, sau Ấn Độ, Phi Luật Tân, và Trung Hoa như đã nêu ở Phần 4/II. Ngoài cộng đồng người Việt tại Mỹ, cũng cần nhắc đến số lượng người Việt tại Úc (226,000); Gia Nã Đại (185,000), và Pháp (128,000).

Dữ liệu tổng hợp từ 2008-2012 của Cơ Quan Thống Kê Các Cộng Đồng ở Mỹ - The American Community Survey (ACS) cho biết hầu hết người tị nạn Việt Nam định cư ở các Tiểu Bang California (40%) và Texas (12%), tiếp theo là các Tiểu Bang Washington (4%), Florida (4%) và Virginia (3%). Ba quận lỵ có cư dân Việt Nam nhiều nhất ở California là Orange County, Los Angeles County và Santa Clara County. Cư dân Việt Nam ở ba quận này chiếm đến 26% dân số Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ. Các khu vực đô thị lớn có mật độ cư dân Việt Nam cao là Los Angeles, San Jose, Houston, San Francisco, và khu vực đô thị Dallas.

pnn-3-content

Thuyền nhân Việt Nam chụp hình làm hồ sơ tỵ nạn.

 

Cộng Đồng Người Việt trên khắp thế giới hiện nay vào khoảng 3,000,000 người mà đa số đã trở thành công dân bản xứ. Ngoài bổn phận với quê hương thứ hai, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại còn bổn phận với quê hương Việt Nam. Đó là bổn phận góp phần dân chủ hóa, giành lại quyền làm người cho 90 triệu đồng bào trong nước. Đây là cuộc chiến có tính cách toàn diện, một cuộc chiến mà mọi sinh hoạt xã hội đều là “vũ khí” và “truyền thông và vận động chính trị tại các quê hương thứ hai” là vũ khí quan trọng nhất. Cuộc chiến này được thể hiện dưới những hình thức kế tục như sau:

(1) Không chấp nhận, tìm cách thức né tránh giao nhà cửa, tài sản để đi vùng kinh tế.

(2) Thực hiện vượt biên, vượt biển để vượt thoát chế độ cộng sản.

(3) Người bị tập trung cải tạo vẫn giữ nguyên ý chí phản kháng (chỉ trừ một số rất nhỏ chịu khuất phục.

(4) Những người ra đi theo các diện Đoàn Tụ Gia Đình; Con Lai; Nhân Đạo; H.O. Nói chung bất cứ những hành động nào thể hiện ý thức chính trị không chấp nhận chế độ độc tài cho dù hiểu theo nghóa thụ động hay chủ động, đều là hành vi chống chế độ cộng sản.

Để có phần kết luận chung nhất của một quá trình tranh đấu suốt 40 năm, Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại có thể nêu lên những thành quả cụ thể sau đây:

Được sống tại các quốc gia tự do, dưới chế độ hiến định tôn trọng giá trị con người. Trong số 3,000,000 người Việt hải ngoại với thành phần đông đảo cựu quân nhân, cán chính VNCH và gia đình là thành phần xã hội bị áp bức, đàn áp bởi chế độ mới sau 1975. Thành phần này chịu đựng tình cảnh “lưu vong ngay trên quê hương” với tính cách một loại “tiện dân”, bị xếp hạng thứ 14 trong phân loại nấc thang xã hội Việt Nam chỉ trên hạng trộm cướp sắp thi hành án tử hình. Đây chính là điều lớn lao, hạnh phúc nhất của Cộng Đồng Người Việt tị nạn cộng sản.

Từ căn bản này, chúng ta mới có điều kiện để thủ đắt những thành công ở những lãnh vực khác. Từ đời sống tự do trên những quê hương thứ hai, Cộng Đồng Người Việt được học hỏi nhiều về tổ chức và quản trị xã hội. Nhờ vậy mà dần hình thành khái niệm căn bản về tổ chức và quản trị một xã hội cho quê hương Việt Nam ngày mai. Khuôn mẫu dung hợp giữa nếp sống văn hóa cổ truyền Việt Nam với nền khoa học kỹ thuật tân tiến trong bối cảnh một thế giới phát triển.

Theo loạt bài “Nghiên Cứu Dòng Nhập Cư Vào Hoa Kỳ và Sự Phân Tán & Tập Trung Của Người Việt Tại Hoa Kỳ” thì người Việt tại Hoa Kỳ cho đến năm chỉ có khoảng 500 người. Đến năm 1970 lượng người Việt tại Mỹ tăng lên khoảng 5,000 người. Từ thập niên 1970 đến trước 1975 thì lượng người Việt trên đất Mỹ cũng chỉ vào khoảng 20,000 người, sống rãi rác các tiểu bang miền Đông-Bắc và miền Tây Hoa Kỳ. Nhưng sau những đợt di tản như phần trên đã trình bày, theo tài liệu của US Census Bureau năm 2000, Cộng Đồng Việt Nam tại Mỹ đã là 1,122,528 người, qui tụ trong 293,621 gia cư.

Sau những năm ổn định cuộc sống từ khi nhập cư, lần lượt những tổ chức Hội Đoàn và Cộng Đồng được thành lập và đây là điều lớn lao nhất mà hiện nay phần đông người Việt chỉ nhận định như một điều tất nhiên. Những tổ chức Cộng Đồng Người Việt tại Orange County, Nam Cali, tại các thành phố San Jose, Houston, Dallas-Fort Worth,... mỗi nơi như thể một quốc gia thu nhỏ tại hải ngoại bao gồm các hội đoàn đồng hương cấp tỉnh, hội đoàn quân đội của các quân binh chủng; hội đoàn văn hóa; hội đoàn khoa học kỹ thuật, hội đoàn ngành nghề chuyên môn; hội đoàn các trường hay liên trường trung học, đại học, các tổ chức bảo tàng lịch sử, các cơ sở giảng dạy Việt ngữ,... Bên cạnh đó còn có các tổ chức tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, với các cơ sở thờ phượng. Tất cả kết cấu nên Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh.

phan_nhat_nam-40_nam_nhin_lai-05-content

Vùng đất tự do “Little Saigon” lần đầu tiên được xác nhận tại Quận Cam (California), sau đó lan tỏa ra nhiều thành phố trong nước Mỹ, và những nơi có người Việt tỵ nạn CS trên thế giới.

 

Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại là một thực thể bao gồm những thành phần nhân sự của nhiều thế hệ... Trước tiên là thế hệ người Việt được đào tạo, trưởng thành, và tôi luyện trong suốt cuộc chiến 1954-1975 qua nhiều môi trường, trong nhiều lĩnh vực quân sự-chính trị-xã hội-văn hóa. Thành phần xã hội đã kiến tạo nên đất nước VNCH mà bốn mươi năm sau, hệ thống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN kế tục nhà nước VN Dân chủ cộng hòa thành hình từ ngày 2 tháng 9, 1945 tại Hà Nội đã hiện rõ trước mắt quốc dân và lịch sử: Ai Thắng Ai trong nhiệm vụ Bào Quốc/An Dân, xây dựng Dân Giàu/Nước Mạnh. Khuôn Mẫu/Tiêu Chuẩn/Giá Trị của 21 năm Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những chuẩn mực mà nhà nước cộng sản Việt Nam không bao giờ, không hề có khả năng thực hiện.

Không phải chỉ là thực tế của chế độ Hà Nội hiện tại mà đấy là xác chứng từ khối cộng sản Đông Âu, Liên Xô trước khi sụp đổ ở thập niên 1990 thế kỷ trước; của Cu Ba, Bắc Hàn hiện nay; Trung cộng cũng chỉ là một anh khổng lồ phát triển trên hai chân rất yếu.

Và nay tuổi trẻ hải ngoại thuộc thế hệ 1½, 2, và thế hệ thứ 3 thuộc Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản đã hình thành khối tài nguyên nhân lực quý giá, sẽ là lực lượng nòng cốt cùng với tuổi trẻ trong nước, thúc đẩy quê hương Việt Nam phát triển theo hình tượng chiếc phản lực cơ thương mại vừa cất cánh khỏi đường băng vươn mình lên bầu trời xanh thẳm khi cộng sản độc tài sụp đổ. Khối nhân lực quý giá này là sự mơ ước của CSVN qua đoạn ngắn dưới đây trong bài “Cộng Đồng Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám” ngày 11/08/2005 của Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phú Bình: “Trong số gần 3,000,000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300,000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hóa, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương.

Từ nhận định này, rõ ràng đội ngũ trí thức của CĐNV người Việt ở nước ngoài, là nguồn lực nhân lực sẻ góp phần tích cực cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước nếu được điều động bởi một chế độ biết tôn trọng Tự Do/Giá Trị Tri thức của mỗi công dân”.

Tuổi trẻ Việt Nam Hải Ngoại đã là những nhân tố phát triển nên nền khoa học kỹ thuật tại Hoa Kỳ, Đức, Gia Nã Đại, Úc... mà cũng là những viên đá góp phần kiện toàn nền Dân Chủ Pháp Trị nơi những cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, tại các trường đại học, trong các tổ chức khoa học kỹ thuật cũng như trong các tổ chức chính trị của các quốc gia sở tại. Chúng ta có thể nêu lên những tính danh: Tiến sĩ Philipp Roesler Bộ Trưởng Kinh Tế Tiểu Bang Niedersachsen, Đức. Cô Eve Mary Thái Thị Lạc, đắc cử Dân Biểu Gia Nã Đại, năm 2007.

Tại Hoa Kỳ, năm 2008 có Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Ánh, và năm nay 2014 có Dân Biểu Tiểu Bang Janet Nguyễn, Hubert Võ. Tuổi trẻ đã có mặt trong Cơ Quan Quản Trị Hàng Không & Không Gian (NASA), đặc biệt là khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, và phi hành gia Eugene Trịnh Hữu Châu (như trong phần 5 đã nêu lên tiêu biểu).

Tại Cơ Quan NASA còn có nhiều chuyên gia gốc Việt Nam như ông Bà Hữu Trịnh và Diệp Trịnh; các Tiến Sĩ Nguyễn Mạnh Tiến; Jonathan Lee Điền Lê, Bruce Vũ Thanh, Bùi Trí Trọng, Nguyễn Quang Việt, Đinh Bá Tiến... Trong ngành sản xuất vũ khí đặc biệt, bên cạnh nữ khoa gia Dương Nguyệt Ánh, còn có Tiến Sĩ Hóa Lý-Sinh Võ Đình Tuấn, Viện Trưởng Viện Fitzpatrick/Đại học Duke, được Creator Synectics chọn là 1 trong 100 thiên tài thế giới. Tiến Sĩ Huỳnh Mỹ Hằng là một trong 24 người nhận giải MacArthur Fellowship năm 2007 được gọi là “Genius Grants” (Giải Thiên Tài) về các ngành khoa học, xã hội, nhân văn, nghệ thuật...

Trong quân đội Hoa Kỳ, nhiều sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng như: Hạm Trưởng Hàng Không Mẫu Hạm, Hạm Trưởng Tàu Ngầm, Hạm Trưởng Khu Trục Hạm, Tư Lệnh Lữ Đoàn Không Kỵ, Thủy Quân Lục Chiến, Phi công phản lực thuộc Hải và Không Quân... Nhìn chung, khối tài nguyên quý giá này tiếp tục được bổ sung trong dài lâu.

Về sinh hoạt chính trị, khối cử tri người Việt tại các quê hương thứ hai ngày càng nhân lên, tùy thời gian không gian hoàn cảnh, lá phiếu của CĐNV có ảnh hưởng vào chính trường, tuy chưa hoàn toàn như ý muốn nhưng chắc rằng sẽ trở thành nhân tố quan trọng trong chính trường. Thêm nữa, trong những năm gần đây, những giới chức gốc Việt trong cơ quan chánh quyền và các lãnh vực kinh doanh thương mại, có khả năng trong vận động chính trị ủng hộ CĐNV về quyền lợi của cộng đồng, và ảnh hưởng phần nào trong chính sách đối với CSVN, nhất là tại cơ quan Lập Pháp từ trung ương xuống đến tiểu bang và thành phố. Nhìn chung, quyền lợi và cái “thế chính trị” của Cộng Đồng từng bước sẽ được bảo đảm hơn, và từ vị trí công dân các quê hương thứ hai giúp cho cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại sẽ hiệu quả hơn.

Và cụ thể hơn hết, CĐNVHN chính là chủ nhân khối tài chánh quan trọng mà sức mạnh tiền tệ, tài chánh chính là vũ khí mềm mạnh mẽ, hữu hiệu nhất. Từ những bàn tay trắng khi chạy trốn khỏi chế độ độc tài tàn bạo trên quê hương, ngày nay khả năng kinh tế tài chánh của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản ngày càng lớn mạnh qua sự kiện cụ thể với những số liệu chính xác: Người Việt gởi về trong nước năm 1991 - 35 triệu, năm 1995 - 285 triệu; năm 2000 - 1 tỷ 700 triệu; năm 2002 - 2 tỷ 100 triệu; năm 2004 - 3 tỷ; Năm 2007 - 7 tỷ 800 triệu; năm 2008 lên đến 8 tỷ... con số này càng ngày càng tăng với ước tính năm 2014 này sẽ là 12 tỷ.

Theo tài liệu thì khoảng 70% lượng tiền trên đây chuyển qua hệ thống ngân hàng, tỉ lệ này có khuynh hướng ngày càng giảm, trong khi lượng tiền chuyển về Việt Nam qua các công ty có khuynh hướng ngày càng tăng. Với lại còn một khối lượng Mỹ Kim khác do khoảng 250,000 đến 300,000 người hằng năm mang theo khi về Việt Nam thăm thân nhân. Nếu trung bình mỗi người về Việt Nam chi tiêu 300 Mỹ kim, thì con số đó sẽ là 90 triệu mỹ kim. Đây chỉ là số ước lượng thấp nhất.

Với thế mạnh truyền thông, Cộng Đồng đã và đang hỗ trợ lực lượng dân chủ trong nước bằng những cách khác nhau:

(1) Chuyển các tin tức quốc nội và quốc tế về Việt Nam cho lực lượng dân chủ, các cá nhân, cho giới cầm quyền CSVN trong đảng, nhà nước, quân đội, công an, nhất là những tin liên quan đến tội ác của CSVN trên quê hương, vì truyền thông trong nước bị cấm loan các loại tin mà CSVN gọi là “phương hại đến ổn định xã hội” hoặc loại tin “gây mất đoàn kết nội bộ”.

(2) Ủng hộ lực lượng dân chủ, ủng hộ các giáo hội ngoài quốc doanh, ủng hộ dân oan, và ủng hộ bất cứ ai kể cả đảng viên cộng sản, có lời nói hay hành động phản kháng CSVN trong mọi hành động đàn áp các công dân thực hiện những quyền mà Hiến Pháp (CSVN) qui định.

(3) Vận động Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Australia,... lên án CSVN vi phạm nhân quyền kể cả việc buôn bán thanh niên nam nữ ra ngoại quốc làm nô lệ dưới dạng “môi giới lao động”, vi phạm ngay Hiến Pháp của chính họ.

Bốn mươi năm chỉ là một thời đoạn ngắn của lịch sử dân tộc, tuy nhiên 40 năm của Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam là một chuỗi hành trình trả bằng máu, nước mắt và mạng sống của hàng vạn triệu người đã thực hiện trên biên giới tử/sinh. Không những chỉ vượt sống mà Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam còn chứng minh cùng thế giới loài người sức mạnh kiên cường bền bỉ vô vàn cao thượng của một Dân Tộc luôn trên đường Chiến Đấu vì Tự Do và Phẩm Giá Con Người.

Phan Nhật Nam

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn