01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5806)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16508)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4914)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4503)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4616)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

"Nhẫn" trong hạnh phúc vợ chồng

04 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4844)

nhanngang-go02cs_1_-content

Tuần này, chủ đề của tuần báo Sống là chữ NHẪN, do đó mục này được đề nghị một tản mạn về chữ Nhẫn trong hạnh phúc vợ chồng, là một tiêu đề không giản dị. Tôi có hai người bạn thân vừa từ VN sang Mỹ chơi, ghé đến thăm tôi, cùng ngồi hàn huyên tâm sự, là Oanh Tạc và Ánh Tuyết là đôi uyên ương vợ chồng hạnh phúc bên nhau đến nay hơn 40 năm trời, chị ấy nói rằng yếu tố cần thiết nhất trong cuộc sống vợ chồng là VỊ THA. Người có tình yêu thương thực sự mới có lòng vị tha. Thiên chúa giáo đề cao BÁC ÁI, con người có bác ái thì rốt ráo có lòng vị tha. Phật giáo xiển dương TỪ BI, có từ bi thì rốt ráo có tâm HỈ XẢ.

Chữ NHẪN trước tiên là một từ ngữ diễn đạt về một thái độ của lý trí, đó là một hành động sau khi trí óc suy nghĩ cẩn thận để đưa đến quyết định có một thái độ hành xử. Một số trạng từ kép có chữ nhẫn: Kiên nhẫn, ẩn nhẫn, nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nha, kham nhẫn... Dù sao trong những chữ này đều có ẩn ý CHỊU ĐỰNG, nên dễ bị định nghĩa theo chiều hướng tiêu cực. Nhưng đối với người tri thức, "Nhẫn" mang tính ngược lại, chỉ có người trí dũng mới thể hiện được trọn vẹn tính chất kham nhẫn của thân-khẩu-ý, vì "Nhẫn" chỉ có thể xảy ra sau một quá trình tư duy chín muồi, đòi hỏi tâm thức phải có một nỗ lực phi thường để thực hành, ngoài ra, nó dễ dàng bị xem là một thái độ hèn nhát.

Dr. Nguyễn Bỉnh Khiêm (NBK) viết bài "Bàn về chữ Nhẫn trong kinh Phật" đăng trên mạng, xin trích vài đoạn phù hợp: Chữ nhẫn từ ngàn xưa trong văn hóa phương Đông, được ca ngợi là phương châm thần hiệu trong việc đối nhân xử thế. Tục ngữ Việt có câu “Một câu nhịn bằng chín câu lành”, người Trung Hoa có rất nhiều câu thơ ca ngợi diệu dụng của chữ nhẫn, thí dụ:

“Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh

Thoái nhất bộ hải khoát thiên không”

(Nhịn ngay lúc ấy thì gió lặng sóng yên;

Lùi một bước nhường thì biển trời bát ngát)

Có giai thoại vào đời nhà Đường, trong nhà ông Trương Công Nghệ có 9 thế hệ sống cùng một nhà (cửu đại đồng đường). Vua bèn đến nhà ông hỏi bí quyết, Trương Công Nghệ liền viết một trăm chữ “Nhẫn” dâng lên, vua đọc liền hiểu.

 

Tô Đông Pha đời Tống bàn về Trương Tử Phòng – một nhân vật tài trí thời Tiền Hán – nói rằng: “Kẻ được gọi là hào kiệt thời xưa, tất phải có khí độ hơn người. Nhân tình có chỗ không thể nhịn được, nên kẻ thất phu gặp nhục thì tuốt gươm đứng dậy, xông tới mà đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Bậc đại dũng trong thiên hạ, gặp những biến cố bất ngờ mà không kinh hoảng, vô cớ bị lăng nhục cũng không nổi giận.” (Lưu hầu luận)

Đó là cái nhẫn của kẻ ôm hoài bão lớn hoặc trong lòng có sở cầu, có rất nhiều trong lịch sử. Hàn Tín không thể mang lụy vô cớ vì một kẻ hạ lưu, chấp nhận cái nhục lòn trôn giữa chợ. Trương Tử Phòng chấp nhận để một ông lão xa lạ mắng chửi, sai bảo như kẻ tôi đòi để rồi được truyền thụ binh pháp. Câu Tiễn nhẫn nhục nằm gai nếm mật, nếm cả phân người, để chờ ngày tiêu diệt nước Ngô. Những cái nhẫn đó, dù được ca ngợi nhưng đều hoàn toàn vì lý trí, vì tư lợi bản thân. (NBK)

Tôi gặp thêm trên mạng một bài viết của tác giả Cao Huy Thuần (CHT), gửi cho đôi vợ chồng mới cưới là người cháu ông, nói về chữ Nhẫn như là một bài học cần thiết giúp cho vợ chồng ăn ở với nhau hạnh phúc, hợp với tiêu đề đang nói đến, nên cũng mạn phép tóm một số đoạn hay ho góp vào cho thêm súc tích.

Chữ "nhẫn" có kẻ khen người chê. Người chê bảo đó là khuyến khích thái độ thụ động, dễ cam chịu, vô cảm; khuyến khích sự tuân phục, cúi đầu, hèn yếu. Thế nhưng đứng trên mặt triết lý, tư tưởng về "nhẫn" không dung chứa thái độ tiêu cực. Trường phái Stoicienn thời cổ Hy Lạp đưa ra châm ngôn là: "chịu đựng; đừng làm gì cả". Thoạt nghe, tưởng đầu hàng số phận. Không phải! Họ chủ trương nên hành động "theo tự nhiên". Họ dẫn dụ điển hình cụ thể: con chó bị cột vào sợi dây thừng sau một cổ xe đang chạy, dây cột đủ cho nó có chút tự do nhưng không dài đủ để chạy đâu tùy thích. Bị cột như thế, thái độ tốt nhất cho nó là ngoan ngoãn chạy theo cổ xe, bởi vì cưỡng lại thì sợi dây tròng cổ sẽ siết lôi nó đi. Họ kết luận, chống lại những biến cố trong cuộc đời chỉ đưa đến đau khổ. Cách làm nhẹ bớt khổ là "chấp nhận chịu đựng cái thực tế cần thiết", đó là hành động "theo tự nhiên", không phải là chịu đựng số phận mà là biết chọn cách gánh vác số phận. Đừng trốn tránh gì cả, hãy ôm cả cuộc đời vào lòng, cuộc đời đưa đến cái gì thì vui lòng chấp nhận cái ấy [Có lẽ từ triết lý này, người Tây phương có câu châm ngôn: "kẻ bằng lòng với số phận là kẻ sung sướng nhất"?].

Sống "theo tự nhiên" là sống tích cực! Hành động "theo tự nhiên" là vận dụng lý trí của ta thế nào để phù hợp với lý vận hành của vạn vật. Như thế không gì làm ta rối loạn. Vì thế mà ta có sự tự do hài hòa cùng vạn vật. (CHT). [Lão tử cũng có khuynh hướng "sống thuận theo tự nhiên của trời đất", mà ông kết luận đó là thái độ sống khôn ngoan nhất]

Trong kinh Phật, chữ Nhẫn lại mang thêm một ý nghĩa thâm áo, khác xa cách hiểu thông thường, hoàn toàn khác với chữ Nhẫn của con người có sở cầu. Trong đạo Phật, bước đầu của Nhẫn là dẹp bỏ sân hận trong lòng. Tại sao? Vì trong các phiền não, tức giận là nặng nhất. Khái niệm chữ Nhẫn trong "Nhẫn nhục Ba la mật", một trong Lục độ, có nghĩa là cam chịu mọi nghịch cảnh để tu tập thân nhẫn, khẩu nhẫný nhẫn. Trong chương Thập nhẫn của kinh Hoa Nghiêm, đức Phật lại nêu ra 10 loại Nhẫn xem như là cảnh giới chứng đắc thâm diệu của đại Bồ Tát, đó là: âm thanh nhẫn, thuận nhẫn, vô sanh pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm nhẫn, như mộng nhẫn, như hưởng nhẫn, như ảnh nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn. (NBK) [không bàn đến trong bài]

Cái gì chận đứng hạnh phúc? Đời sống lứa đôi là đời sống đầy chuyện vui vẻ, nhưng cũng đầy chuyện để giận hờn. Cái chận đứng hạnh phúc mà mình phải tránh, đó là nóng giận. Nóng giận là lửa; lửa thì đốt cháy tất cả. Giống đực và giống cái, là hai cơ chế nhị nguyên hoàn toàn trái ngược khác nhau nhưng lại là 2 điều kiện, 2 yếu tố âm dương để giao hợp sinh ra vạn vật muôn loài nơi địa cầu này. Vì thế, 2 người nam nữ hôn phối nhau, có nghĩa là 2 cái khác biệt nhau tập tành sống chung với nhau. Khác nhau thì làm sao chẳng có lúc không tương đồng? Hay giản dị là không có lúc tức giận nhau. Đó là chuyện phải tránh nếu muốn hạnh phúc. Muốn tránh thì phải chiến thắng hai thứ nguy hại vô cùng là TỰ ÁI và MẶC CẢM.

Cái gì mở đường cho hạnh phúc? Sự tương kính nhau, tôn trọng nhau, nhường nhịn nhau, vị tha nhau, hy sinh cho nhau. Đây là những phát sinh bởi một tình yêu chân thật, tạo nên những thái độ cao cả, cao thượng. Ông Cao Huy Thuần còn nói một việc mà tôi rất thú vị, đó là chiếc NHẪN cưới, một từ ngữ giống hệt với thuật ngữ NHẪN trong "cách nhân xử thế" và trong "Đạo giáo". Chiếc nhẫn bỗng trở thành một ẨN DỤ, ngầm khuyên đôi tân phối ngẫu hãy lấy cách tương kính tương nhịn làm phương châm khi 2 người (hoàn toàn khác biệt về cơ thể vật lý cho đến ý tưởng trừu tượng) bước vào cuộc sống chung với nhau, mà, người Việt mình gọi rất hay là "ăn ở" với nhau, rộng hơn là "ăn đời ở kiếp" với nhau.

Trở lại với chị bạn Ánh Tuyết của tôi, "Vị tha" là một cách sống vợ chồng để từ đó đắp bồi cho tình yêu lứa đôi, cho hạnh phúc gia đình, cho giáo dục con cái. Trong vị tha đã có lòng nhẫn nhịn, tương nhượng trong đó. Tôi cũng đồng thời nhận thấy "hỉ xả" song hành cùng "vị tha", vì trong hỉ xả đã ôm tâm từ bi, trong từ bi tâm đã chứa lực của nhẫn. Vị tha và hỉ xả gần giống nhau trong phép ở đời, đều để tạo nên một cuộc ăn đời ở kiếp chung tình chung thủy đến răng long tóc bạc, đến ngày nhắm mắt chia tay (dù có bạc mệnh) vẫn để lại trong lòng người bạn đời tại thế một tình yêu tôn quý vĩnh cửu.

Khi tôi đi ra khỏi đất nước VN, về mặt một gia đình vợ chồng hạnh phúc bền vững thì nhận thấy trên thế giới này không khác, người vợ là người thể hiện chữ NHẪN nhiều hơn người chồng, chính họ là mấu chốt quan trọng nhất đối với nền tảng một gia đình; ngay cả ảnh hưởng đến thành công hay thất bại của người chồng họ ngoài xã hội, điển hình là vai trò gương mẫu của phu nhân người ứng cử tổng thống Mỹ, ông ta sẽ vô phương ra tranh cử nếu bà vợ ông ta bị tai tiếng.

Có thể, cái đức hạnh MẸ do tạo hóa cấy sẵn vào trong vô thức của muôn loài luôn là một đức hạnh cao cả vĩnh viễn; và cái đặc tính MẸ tự nhiên truyền kiếp ấy có trong con người nữ, với thiên tính làm mẹ, với trải qua mang nặng đẻ đau, nên nữ nhân thể hiện tính Nhẫn dễ dàng và tuyệt vời; đến đỗi đức Phật mang tính Nhẫn ra gọi đó là Pháp cao quý nhất dành cho bậc Bồ Tát đắc đạo, chỉ có Bồ Tát mới đắc được Pháp Nhẫn thâm diệu này (Thập nhẫn trong kinh Hoa Nghiêm đã lược nói ở trên), cho nên Bồ Tát còn được thị hiện qua hình tượng nữ là Quán Thế Âm Bồ Tát.

Đặc tính nhẫn nhịn, tùng phục chồng không riêng của người phụ nữ Á Đông, nhưng có thể do văn hóa đặc thù của phương Đông mà thể hiện rõ nét, phụ nữ Nhật được xưng tụng với câu "Ở nhà Tây, lấy vợ Nhật", và truyền thống ấy, thống kê trong thời đại này vẫn cho thấy họ vẫn duy trì cái phong cách thuần thục ấy, họ xem là "kim chỉ nam" trong việc gây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình; Ngoài ra, người phụ nữ Trung Hoa, Đại Hàn, Ấn Độ và phụ nữ ở Trung Đông đều được thế giới công nhận là tuân phục chồng trong ý nghĩa chữ Nhẫn nhịn. Riêng người phụ nữ Việt thì thế giới biết đến muộn hơn, sau khi người phương Tây vào nước ta. Vậy người phụ nữ Việt được đánh giá ra sao?

Việc này quả thật là tế nhị đến khó trả lời. Chúng tôi chỉ dám cà kê dê ngỗng dựa theo hiểu biết trên một đoạn lịch sử Việt cận đại. Nhưng trước tiên, nhìn ngược lại huyền sử nước Việt, huyền thoại rằng Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra 100 người con, rồi không hiểu vì lý do phức tạp nào mà bỗng hai vợ chồng chia đôi số con cái rồi chia tay nhau, kẻ mang 50 con lên núi rừng, người đem 50 con xuống miệt biển. Chưa chi đã thấy vợ chồng sớm chia lìa nhau từ huyền sử! Theo chiều dài lịch sử, người phụ nữ Việt được chính dân tộc này lấy làm biểu tượng "Mẹ Việt Nam", có thể do trải qua cuộc sinh tồn và chiến tranh bất tận trong trong lịch sử, người phụ nữ Việt đã đóng vai trò tích cực, chịu đựng từ việc "tảo hôn" gả về nhà chồng từ khi còn bé tí, làm dâu, nuôi chồng ăn học, nuôi con vất vả, còn phải sống đơn chiếc vì chồng lao vào chiến tranh, cho mãi đến năm 1975 nước Việt thống nhất mới dừng lại. Mà cũng vì thế, hình ảnh "Mẹ Việt Nam" từ bao giờ đến bây giờ cũng là biểu tượng một người mẹ già còm cỏi, gương mặt sầu não nhăn nheo đầy đau khổ vì chiến tranh và ly tán v.v.. Tôi cứ ước gì biểu tượng Mẹ Việt Nam là một thiếu nữ trổ mã xinh đẹp, có gương mặt mạnh mẽ, tươi cười, yêu đời, hạnh phúc… thì có lẽ con dân Việt Nam không còn khổ nạn nữa…

Nên nhớ, nước Việt tự hào có 4,000 năm văn hóa biệt lập, không bị ngôn ngữ Trung Hoa đồng hóa; Nếu người phương Tây không dùng mẫu tự Alpha Beta lập thành bộ chữ Việt dựa theo phát âm của người Việt sống ở Bắc kỳ, thì quốc ngữ Việt đã là chữ NÔM, một tự dạng nhái theo Hán tự mà hoàn toàn khác hẳn, đọc lên thành tiếng nói Việt, giống như chữ viết của Nhật Bản hay Đại Hàn hiện nay. Nhắc để thấy phụ nữ nơi đất Bắc nước Việt hấp thụ được truyền thống văn hóa và chữ nghĩa lâu đời nên phong cách ăn nói của cô gái xứ Bắc có thừa khôn ngoan và thâm thúy, đặc biệt sử dụng rất giỏi tĩnh từ và trạng từ để trau chuốt câu nói trở thành văn vẻ bóng bảy, hoặc có khả năng làm cho người nghe kiêng dè.

Miền Nam là thổ ngơi được thiên nhiên ưu đãi cho con người về miếng ăn, thực phẩm dồi dào, đất đai mênh mông… Sống trong ưu đãi như thế, nhưng họ vật lộn với cuộc sống sinh tồn nhiều hơn là phát triển văn hóa; vì nghèo, vì thiếu thầy dạy học, được đi học chữ rất khó khăn, vì bị đô hộ; cho nên dân trí thấp, hành xử trong cuộc sống theo cảm tính nên xuề xòa dễ quên, hiếu khách… Duy trì và phát triển những tập tục tốt đẹp nào mà họ tình cờ thu thập được. Khi dân trí thấp thì tầm cỡ tư duy kém. Bằng chứng là tầng lớp nông dân hay lao động bị thất học, họ không hiểu biết chút nào về cái gọi là chủ nghĩa, từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản hay tư bản; họ lao vào cuộc chiến chống ngoại xâm bằng lòng yêu nước mộc mạc hơn là ý thức nghĩa vụ công dân, bị kéo vào cuộc nội chiến theo tuyên truyền của đôi bên chiến tuyến, thụ động hoặc chấp hành theo lệnh nhà nước.

Người phụ nữ thì còn gánh chịu một cuộc đời thiệt thòi hơn, ít học hơn, chỉ biết làm lụng cực khổ từ thuở nhỏ, lấy chồng xong càng cực nhọc hơn vì bầy con. Sâu kín trong lòng họ, một nỗi bất an không tên, một nỗi sợ hãi không lời trước nghèo khổ, trước chiến tranh lan tràn, và con cái của họ nhận ra điều đó. Rồi một ngày phải đến, chấm dứt chiến tranh. Họ lại trải qua thêm một thời kỳ kinh hãi đầy nước mắt bất hạnh, cực nhọc khốn cùng. Rồi đàn ông, người chồng, người rường cột trong gia đình hoặc trở thành một kẻ bại trận vô dụng bởi hậu quả của chiến tranh, hoặc ngược lại nếu là kẻ chiến thắng thì con người đàn ông ấy bắt đầu biến chất, trở thành một thứ vua chúa ngạo nghễ và tàn nhẫn, còn họ trở thành tôi tớ câm nín hay thứ đồ vật sở hữu, nhân quyền của người phụ nữ không còn được tôn trọng. Có phải tất cả những gì mà họ trải qua và cam chịu ấy trở thành loại bệnh HỘI CHỨNG? Chữ NHẪN tốt đẹp trong tâm hồn họ, trong lòng dạ họ có còn nguyên vẹn hay đã tật nguyền?

Nếu tất cả người đàn ông Việt biết nhìn lại mà cảm thương cho người phụ nữ Việt đã hy sinh như thế nào để sống sát cánh bên chồng con trong suốt thời kỳ chiến tranh quá khứ ấy, thì ắt đất nước Việt bây giờ không đau đớn nhìn hàng hàng lớp lớp từ thiếu nữ đến phụ nữ vẫn tiếp tục muốn "tìm chồng xa xứ"! Và câu trả lời về người phụ nữ Việt có lẽ đã rõ ràng đối với những người đàn ông không còn nhân tính. Con người thăng tiến nhân cách theo cung bậc dân trí văn minh hay ngược lại, do đó ngạn ngữ có câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Khi một con người mà tâm trí bị một chứng bệnh hội chứng nghiệt ngã, họ sẽ có một thái độ sống bị ảnh hưởng nặng nề bởi nỗi ám ảnh ấy, trước nhất là thái độ vùng vẫy phản kháng, để trả thù hoặc không đi nữa, họ không muốn cuộc đời còn lại của họ vẫn đi theo vết tích hãi hùng ấy. Nỗi sợ hãi thầm kín sâu xa về thân phận nữ giới trong một xã hội đầy áp lực chèn ép họ, đã trở thành một thứ sức mạnh bất chấp mọi dư luận, miễn sao cho họ thoát khỏi một cuộc sống đầy lo âu sợ hãi và đã mất hết niềm tin. Họ chấp nhận mọi "phương tiện" mưu sinh để đạt được "cứu cánh" thoát hiểm.

Vợ chồng rất cần thiết có những thức ăn bảo hòa cho hạnh phúc. Nhẫn là nhịp cầu dẫn bác ái đến vị tha. Nhẫn là nhịp cầu giữa từ bi và hỉ xả. Nhẫn là một huân tập thành tựu để tiến đến tâm thức an lạc thiện lành. Tiến trình này sẽ không xảy ra nơi một con người bệnh hoạn tâm trí. Một thân thể khỏe mạnh do có thực phẩm dinh dưỡng. Tinh thần cũng thế, nếu nuôi dưỡng bằng loại thức ăn có tác hại thì sẽ bị bệnh hoạn giống như cơ thể.

Không có nhịp cầu tương kính nhẫn nhịn thì hai "cái xa lạ" nam và nữ muốn hòa nhập một sẽ mãi mãi là hai phương trời xa lạ, vì những tham vọng sở cầu của mình đặt vào người kia - cái mà trí óc tin rằng sẽ sở hữu được - mà không có kết quả như mong muốn, lý trí sẽ đào thải cái đó để tìm cái khác. Sự sai biệt suy nghĩ, sự chênh lệch tư duy, cách biệt trình độ học vấn quá xa giữa 2 vợ chồng, những bất cập này ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái, cũng là một trong những nguyên nhân tạo dần nên khoảng cách vợ chồng mà còn có thể dẫn đến ly tan, làm sụp đổ tâm lý con cái. Mọi thứ không tốt đẹp xảy ra bị đổ hết cho duyên số, cho duyên phận, cho định mệnh; còn cái tôi của con người tạo ra hậu quả ấy thì lý trí hắn luôn cho là vô tội. Điều này nói lên cuộc sống vợ chồng ấy không có tình yêu thực sự bằng con tim. Người đó chưa từng biết sống với lòng nhân ái hay từ tâm nên chữ Nhẫn không có trong tình vợ chồng và với con cái.

Người có tình yêu cao thượng thì có bi tâm giống như bậc Bồ Tát bố thí không chấp trước, người đó hiến dâng tất cả và nhận lãnh thiệt thòi cách mấy cho bản thân cũng cam chịu. Phải chăng đó là "Nhẫn Ba La Mật" của tình yêu?

Ông Tâm Tĩnh.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn