01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5806)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16508)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4914)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4503)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4616)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

40 Năm Thăm Thẵm Đoạn Trường...

10 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 2727)
tin_chinh_0-content

Kỳ 1

Phần Một: Dài cơn sóng gió lưu vong

1. Dẫn Nhập

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 chắc hẳn là thời điểm không bao giờ quên đối với những người Việt vượt chết ra đi từ miền Nam tại giờ phút đau thương tột cùng ấy của lịch sử dân tộc dẫu trí nhớ của con người vốn giới hạn so với vô tận của thời gian. Nhưng không chỉ riêng đối với người Việt, tháng ngày vô vàn kia cũng là dấu ấn không hề quên đối với một số công dân Mỹ, cụ thể là những sĩ quan, hạ sĩ quan, nhân viên thủy thủ đoàn của những chiến hạm thuộc Hải Quân Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc di tản không tiền khoáng hậu của nhân loại - Cứu vớt trong một hoàn cảnh vô vàn khắc nghiệt, cực độ nguy nan trên biên giới sống/chết một số lượng đông đảo người của một quốc gia đang cơn sụp đổ.

Đấy là câu chuyện tưởng như là huyền thoại với đoàn tàu gồm 30 chiếc của Hải Quân VNCH, vốn là những chiến hạm Hoa Kỳ đã viện trợ cho VN trong thập niên 60. Những tàu chiến cũ kỹ, thiếu trang bị đã được Hải Quân Mỹ dùng trong Thế Chiến Thứ Hai, thuộc thế hệ “kim loại mệt mỏi” xếp vào hàng phế thải... Đoàn tàu cũng gồm những thương thuyền chỉ dùng trong vùng cận duyên, một số bị hư hỏng, vào nước...

Đoàn tàu hỗn hợp chở 30,000 con người tị nạn vượt biển sau ngày 30 tháng 4/1975 dưới quyền điều động của Hải Quân Đại Tá Đỗ Kiểm với thủy thủ đoàn Hải Quân VNCH được chỉ huy tổng quát bởi Richard Armitage, 30 tuổi Đặc Phái Viên của Tổng Thống Mỹ. Richard Armitage trước 1975 giữ nhiệm vụ cố vấn cho Hải Quân VN với tên Trần Văn Phú ­_ Tên hiệu biểu hiện lòng yêu mến đối với Hải Quân VNCH, vì Trần là họ của Thánh Tổ Hải Quân Trần Hưng Đạo; Văn là tên đệm của đa số đàn ông người Việt; Phú có nghĩa là “giàu = rich, từ tên Richard”.

Hơn mối tình cảm, phản ứng có tính cách cá nhân này, với quyền hạn và trách nhiệm của một đặc phái viên tổng thống trong một thời điểm khẩn cấp của lịch sử, Cố Vấn Armitage lên tàu HQ3 đang dưới quyền chỉ huy của Phó Đồ Đốc Hoàng Cơ Minh. Từ HQ3, Cố Vấn Armitage liên lạc với Hạm Đội 7 – Sự kiện đầu tiên trong lịch sử hải quân Hoa Kỳ khiến Đề Đốc Donald Roane, chỉ huy hạm đội phải gọi về Ngũ Giác Đài để xác nhận tính danh của Armitage sau khi kêu lên lời tán thán: “Này ông bạn trẻ, tôi quả thật không hề quen với tình thế một người mặc thường phục, leo lên chiến hạm trong đêm và ra lệnh cho tôi...”

Vượt qua những thông lệ truyền thống của Hải Quân Mỹ, do tấm lòng yêu mến quê hương và con người miền Nam Việt Nam, với ủy nhiệm cao thượng và quan trọng của Tổng Thống Mỹ tại một thời điểm nguy nan, Cố Vấn Armitage đã phối hợp cùng với Hải quân Đại tá Đỗ Kiểm hoàn thành công tác thần kỳ - Đưa 30 con tàu với 30 ngàn con người từ Côn Sơn đến Hải Cảng Subic, Phi Luật Tân. Cuộc hải hành thông thường chỉ kéo dài khoảng hơn hai ngày nay kéo dài đến hơn một tuần dưới đe dọa tấn công từ phi cơ cộng sản Bắc Việt. Cũng chưa hết rắc rối khi vào đến hải phận Phi Luật Tân, Tổng thống Marcos của Phi ra lệnh đoàn tàu phải trở lại VN vì không muốn gây phiền phức ngoại giao với nhà nước cộng sản vừa đoạt chiếm miền Nam.

Cuối cùng, Cố vấn Armitage và Đại tá Đỗ Kiểm đi đến một quyết định chung: Thay Quốc Kỳ VNCH bằng Quốc Kỳ Mỹ để các đoàn tàu vào Subic với căn cước là tàu của Liên Bang Bắc Mỹ. Một cảnh tượng bi tráng được hình thành: Thủy thủ Đoàn Hải Quân VN, đoàn người tị nạn đồng cất cao khúc hát... Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi! Khi lá Cờ Vàng dần hạ xuống trên sóng biển Vịnh Subi... Người đã khóc vĩnh quyết cho Quê Hương Yêu Quý Miền Nam! Nhưng đoàn người tị nạn trên 30 chiếc tàu ghé bến Subic sau ngày 30 tháng 4, 1975 kia quá nhỏ, bởi còn lại nơi Miền Nam hàng triệu người dân Mất Nước/Mất Đời Sống/Mất Tự Do. Bi Kịch Thuyền Nhân khởi động từ khối người bi thiết đau thương này.

 

2. Diễn Tiến

40 năm sau ngày sụp vỡ miền Nam, mở đầu cho cuộc di tản vĩ đại và bi thảm nhất của lịch sử nhân loại, nay cũng là lúc Cộng Đồng Người Việt phải nhớ lại lịch sử thuyền nhân tị nạn để nói lên lời tri ân đến cùng thế giới, cụ thể đối với Liên Bang Bắc Mỹ mà một người đại diện thẩm quyền cho tấm lòng hào hiệp của đất nước mà nay chúng ta đã là công dân - Đấy là Cá Nhân Cao Quý Cựu Tổng Thống Jimmy Carter của tổ chức Habitat for Humanity, một chương trình An Cư Lạc Nghiệp vĩ đại nhất của chính phủ Hoa Kỳ.

Trước khi đi vào chi tiết với nước Mỹ từ quyết định của Cựu Tổng Thống Jimmy Carter, người đã khởi động chiến dịch cứu vớt Thuyền Nhân Việt Nam, và những ân nhân lớn tiếp thực hiện quá trình định cư người Việt tị nạn ở Mỹ gồm những tính danh lớn, Cựu Tổng Thống Ronald Reagan, Tướng John Vessey, Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại giao Robert Funseth... Chúng ta cần trình bày lại từ đầu với những tài liệu từ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn LHQ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ 1975 đến 1995 đã có 5 đợt thuyền nhân và bộ nhân được liệt kê sơ khởi như sau:

1- Tháng Tư, 1975 có130,000

2- Từ 1975 đến 79 có 326,000. Giai đoạn có lượng thuyền nhân ra đi nhiều nhất.

3- Từ 1980 đến 84 có 253,000

4- Từ 1985 đến 1989 có 192,000

5- Từ 1990 đến 1995 có 63,000.

Tổng cộng 964,000 dân tị nạn đã đến các trại trong vòng 20 năm (1975-1995).

Số lượng của báo cáo trên chỉ nêu lên con số tổng quát tính đến năm 1995, muốn biết thêm chi tiết và đầy đủ hơn, chúng ta cần căn cứ vào tập báo cáo chính thức năm 2000 có tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 years of Humanitarian Action”. Bản báo cáo đúc kết về tình trạng tị nạn thế giới, đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Mở đầu cho tập tài liệu, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã nói về lòng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới. Tập thể những con người đã mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đã vượt qua biết bao thử thách, nguy nan kể cả sự chết không toàn vẹn để đi tìm con đường sống. Bà Ogata đã tuyên dương những con người này là “Những Người Sống Sót Vĩ Đại của Thế Kỷ 20”.

Cũng bởi thế giới dẫu đã qua Thế Kỷ 21, nhưng bạo lực chiến tranh do tham vọng cố kết giữ chặt quyền lợi của những cá nhân, tập đoàn cá nhân cầm quyền vẫn gây nên tiếp diễn thảm kịch tị nạn với những địa danh mới như Kosovo, Đông Timor, Chechnya, Darfur, hoặc từ các nước nghèo đói, dịch bệnh, bị nội chiến xé nát ở Châu Phi, và mới mẻ nhất là những quốc gia vùng Baltic vừa giành được độc lập sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã, 1991. Những quốc gia điển hình như Ukraina, Checknya, Belarus đang chịu tác động xâm thực của “thực dân hóa kiểu mới” của nhà nước Nga, cũng như làn sóng tị nạn vẫn âm ỉ kéo dài trong nhiều thập niên từ những quốc gia cộng sản còn sót lại, Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Nam.

Tuy nhiên có lẽ trong lịch sử nhân loại, không có cuộc di tản nào bi thảm và kéo dài như các làn sóng thuyền nhân rời Việt Nam kể từ sau 1975 cho mãi đến thập niên cuối cùng của thiên niên kỷ vừa qua, và hiện nay vẫn tiếp tục dưới những hình thái, cường độ với những đối tượng khác nhau. Tính phi lý của thảm kịch thuyền nhân Việt Nam còn nổi bật vì người Việt Nam đã phải rời quê hương để tìm quyền sống trong khi tiếng súng đã không còn trên quê hương, dưới một chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa - Chế độ không có hiện tượng người bóc lột người như tập thể cầm quyền ở Hà Nội thường tự ca ngợi.

Lòng thù hận tăm tối và nỗi cuồng tín mù quáng của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam tiếp tục bao trùm đất nước và dân tộc bằng đàn áp, khủng bố khiến người dân miền Nam sau 1975 chỉ còn một lối thóat là lao mình ra biển khơi để tìm sống. Ngoài ra còn có một số lượng người miền Bắc tiếp theo trong thập niên 80 theo ngã đường phía Bắc (Không thuộc về nội dung của tập tường trình này vì hầu hết ra đi vì lý do kinh tế). Hàng chục ngàn gia đình miền Nam gồm trẻ thơ, người già đã cùng ra khơi hướng về những bến bờ hy vọng, bất kể những hiểm nguy vô vàn – Những cảnh chết và cách chết oan khiên thảm khốc chực sẵn từ lúc xuống chiếc ghe nhỏ trước khi được đưa ra thuyền lớn. Những tai họa do chính những kẻ gọi là “đồng bào người Việt - Công an, lính biên phòng của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Cũng cần nhắc lại rằng, ngay sau ngày 30 tháng 4, từ cuối năm 1975, đã có những đợt tị nạn Việt Nam đầu tiên đến tạm trú tại các nước lân bang. Đợt tị nạn này gồm 5,000 người tại Thái Lan; 4,000 người tại Hồng Kông; Tân Gia Ba 1,800 người, và khoảng 1,250 người đến Phi Luật Tân. Tuy nhiên, phải đợi đến vào tháng 7 năm 1976, khi Hà Nội loại bỏ bộ máy quân quản miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng bức người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo thì làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Thế nên, đến cuối năm 1977 đã có trên 15,000 người Việt sang tị nạn tại các nước thuộc vùng Đông Nam Á.

Qua năm 1978, khi đảng và nhà nước nhà cộng sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo năm 1979 với sự kiện xua quân xâm chiếm đóng Cam Bốt, đồng thời tiến hành cuộc chiến biên giới với Trung cộng thì làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc thành phần người Việt gốc Hoa. Nhóm người này sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Hoa. Tổng kết lại, vào cuối năm 1978 đã có 62,000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông-Nam Á.

Riêng chỉ trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54,000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Làn sóng tị nạn lớn này đã khiến các nước trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đã bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đã gia tăng. Nếu thóat chết được giữa dòng sông, nơi bãi biển thuộc lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam vì công an cộng sản vốn là, “Công an tổ chức vượt biên/Công an bán bãi vượt biên/Công an lùng bắt vượt biên/Công an tàn sát người vượt biên” để triệt đầu mối tội ác...

Đoàn người vượt biên tiếp trôi vào lãnh hải quốc tế và đây là khởi đầu những cuộc hành trình hãi hùng giữa đại dương... Và nếu sống còn đến được bến bờ tạm dung, thì những lớp người này đã kể cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện thương tâm về người cha, người mẹ, đã phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quý hơn vàng được vắt ra từ miếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những vụ việc khủng khiếp về người chết đã cứu được người sống với thịt, máu của chính họ. Hoặc là những câu chuyện kể trong tiếng khóc hờn oan về những trường hợp thảm khốc khi gặp hải tặc.

Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này còn phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba bão táp đã khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai có thể phỏng đoán là có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, có thể ước tính ra bao nhiêu người hy sinh trên biển cả. Sau đây là một câu chuyện bi thảm điển hình mà cho dù trí tưởng có phong phú bao nhiêu cũng không tưởng ra được, nói cho cùng của trường hợp thuyền nhân Vũ Duy Thái.

Ông Vũ Văn Thái sinh Ngày 2 Tháng 10 năm 1936 tại Hóa Lộc, Tuyên Sơn, Ninh Bình (Bắc Việt). Thuở nhỏ rất nghèo, phải chăn trâu cắt cỏ từ lúc 5 tuổi. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mẹ ốm đau thường xuyên, nhưng lần hồi đến năm 23 tuổi thì đời sống tương đối dễ chịu hơn với nghề thợ may. Ông Thái di cư vào Nam năm 1954, lập gia đình với bà Đinh Thị Bằng, sinh năm 1940 tại Phú Nhai, Nam Định (Bắc Việt) vào 1958 ở xứ An Lạc, Gia Định. Bà Bằng cũng thuộc thành phần di cư năm 1954, lúc mới lấy nhau hai vợ chồng rất nghèo, bà chia sẻ với ông nỗi gian nan, vất vả của đời sống ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng.

Là một phụ nữ yếu đuối về thể chất nhưng bà Bằng rất mạnh mẽ về tinh thần. Gần như trong suốt cuộc đời, bà không được hưởng thụ gì, không có một thói quen giải trí nào, không ưa thích một điều gì ngoài niềm vui lo toan sắp xếp công việc tề gia nội trợ, chăm lo bữa ăn giấc ngủ cho chồng cho con. Hai người có tất cả 7 con, gồm có: Giuse Vũ Duy Thanh sinh năm 1959; Vincente Vũ Duy Khanh sinh 1961; Phêrô Vũ Duy Tuấn sinh 1963; Maria Vũ Thị Thanh Thủy sinh 1966; Maria Vũ Thị Thanh Thủy Trang sinh 1968; Martin Vỹ Duy Tài sinh 1971 và Phêrô Vũ Duy Trí sinh năm 1975.

Đây là một gia đình điển hình hạnh phúc của người miền Nam nếu như không có lần đất nước rơi vào tay cộng sản trong ngày 30 tháng 4, 1975. Là một gia đình Thiên Chúa Giáo ngoan đạo, các con ông bà Thái đã thụ hưởng một nền giáo dục nằm trong tình yêu thương của Thiên Chúa do đó không bao giờ chúng tôi có thể sống nổi dưới ách độc tài, đàn đáp của cộng sản. Vì thế gia đình hai ông bà đành quyết định bỏ nước ra đi.

Chuyến vượt biển thứ nhất, ông bà Thái cho ba con trai đầu lòng đi trước. Tàu khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài Gòn vào ngày 1 tháng 10 năm 1978 chở theo 130 người. Nhưng chỉ đi được bốn ngày thì chết máy. Ghe lạc vào một đảo san hô đầy đá ngầm thuộc đảo Bành Hồ (Đài Loan). Sống ở đó 50 ngày, thực phẩm hết, số người chết vì đói cứ tăng dần và những người sống sót đành xẻ thịt người chết mà ăn để sinh tồn. Hai con lớn Vũ Duy Thanh và Vũ Duy Trung đã rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát này. Các con đã chết và xác đành cho bạn đồng ghe ăn thịt.

Mãi tới sáng ngày thứ 50 trên đảo mới có tàu đánh cá Đài Loan tới cứu. Toàn ghe đi có 130 người nay còn sống sót có 60 người. Nhưng trên đường từ đảo san hô vào Đài Loan, lại có thêm một số người chết nữa vì quá kiệt sức. Rút cục khi đặt chân lên đất liền ở Đài Loan, chỉ còn 34 người sống sót, trong số đó có người con thứ ba Vũ Duy Tuấn và một người con đỡ đầu của ông là Trịnh Vĩnh Thụy. Hiện Tuấn đang ở Đài Bắc, còn Thụy, nhờ có thân nhân ruột thịt bảo lãnh nên đã định cư tại California, Hoa Kỳ.

Từ thảm kịch hai anh bị chết thảm, vì sợ bố mẹ đau buồn Tuấn đã dấu biệt tin tức. Mãi tới ngày 20 tháng 12, 1978, một người bạn của ông Thái tên là Đỗ Minh Ngự ở Mỹ viết thư báo tin, gia đình ông mới được rõ tin tức về chuyến đi kinh hoàng của ba con. Tuy nhiên đúng thời điểm này, gia đình ông bà lại đang chuẩn bị vượt biển chuyến thứ hai. Gia đình làm lễ cầu nguyện ba ngày liền cho hai con (chết ở Đảo Bành Hồ) tại nhà thờ An Lạc, Chí Hòa. Nhưng mặc dù vô cùng đau đớn, ông bà vẫn tiếp tục xúc tiến cuộc hành trình vượt biển với gia đình còn lại với giá Tự Do đã trả bằng thân xác của hai con.

Gia đình ông Thái rời Sài Gòn vào ngày 28 Tháng 12 năm 1979 lúc 4 giờ sáng để đi xuống Rạch Giá. Qua 4 giờ sáng ngày 29 thì ghe của ông ra khơi, chiếc ghe mang số VNKG 0980, dài 13m (khoảng 43 feet), ngang 2.5m (8 feet), chở 120 người. Ghe chạy tới 7 giờ chiều ngày 30 thì gặp hải tặc Thái Lan (trên tàu cướp có treo cờ Thái Lan). Hải tặc Thái xáp lại cướp lần đầu. Cướp xong, chúng bỏ đi. Qua 8 giờ sáng ngày 31 lại gặp một tàu cướp khác. Lần này cướp xong, chúng phá máy tàu. Một chuỗi 8, 9 tiếng nổ phát ra ở hầm máy làm chiếc ghe lập tức bị chao đi và chìm lỉm ngay ít phút sau đó. Tất cả mọi người trên ghe đều la khóc kinh hoàng.

Vào những giây phút cực kỳ khiếp đảm này, vợ chồng ông không nói được với nhau câu nào. Ông chỉ còn kịp nhìn thấy bà vợ với vẻ mặt hết sức kinh hoàng, thảng thốt. Rồi ông cúi xuống hôn hai con út là Tài (8 tuổi) và Trí (4 tuổi). Ông cũng nghe thấy tiếng con gái Thùy kêu la: “Cha ơi... Chú Tuynh kìa...” và con gái Trang la lên “Cha ơi... chết rồi...” Rồi ghe chìm lỉm. Lúc đó bà vợ vẫn ở bên cạnh ông... Nhưng bà không hề níu kéo lấy ông! Đây là sự hy sinh cao cả cuối cùng của người vợ /người mẹ Việt Nam chấp nhận cái chết dành cho chồng con quyền sống. Bà Bằng đã không muốn chồng bận bịu, vướng mắc giữa sóng biển để ông có cơ hội cứu các con. Khốn thay, một con sóng độc ác đã ùa tới nhấn chìm tất cả những người thân yêu của ông xuống biển sâu. Ông Thái không còn thấy ai nữa. Chỉ có sóng nước ngập đầu. Ngay lúc đó ông Thái được một người cháu tên Phương níu lại và ông bíu vào một cái can nước hoàn toàn theo bản năng. Lúc mở mắt ra ông Thái thấy bà vợ vật vờ ngay trước mắt...

Rồi sau đó ông ngất đi không còn biết gì nữa. Khi tỉnh dậy, ông Thái thấy mình đang nằm trên tàu của hải tặc, bên cạnh ông hai em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho bà vợ. Ông cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn hải tặc đã ra hiệu là phải hất bà vợ xuống biển. Thật không còn gì tan nát hơn lòng ông lúc đó! Ông nhào lại ôm bà vợ vào lòng, đau đớn nhìn bà hai mắt vẫn còn mở nhưng thân hình đã bất động. Ông dùng tay vuốt cho mắt vợ khép lại rồi khiêng phần đầu, hai em Hùng và Châu khiêng ở chân hạ xác thân bà Bằng xuống biển. Đây là phút cuối cùng ông Thái ở cạnh vợ sau một đời gắn bó thủy chung.

Một cơn sóng áp tới... Biển xanh, sóng dữ vĩnh viễn lôi cuốn đi người vợ thân yêu nhất đời của ông. Một thóang lay động trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia lìa. Ôi đau đớn nào cho bằng cơn đau đớn mà người Việt Nam tên Vũ Văn Thái đã phải chịu đựng. Tất cả những người thân yêu của ông đã ra đi trong một khoảnh khắc ngắn ngủi tưởng như không thực. Khi chết, bà Thái không tỏ vẻ đau đớn, chỉ nét thảng thốt thóang qua trên khuôn mặt bình thản. Đó là hình ảnh cuối cùng của người vợ mà ông Thái ghi nhớ được trước giây phút ngàn thu vĩnh biệt.

Kiểm điểm lại, chẳng những một mình bà vợ mà tất cả bốn người con, Thanh Thùy, Thùy Trang, Duy Tài, Duy Trí, những người thân yêu nhất của ông Thái đã vĩnh viễn đi vào lòng biển sâu. Ông nghĩ rằng nếu trên đời này có những thảm họa đau đớn nào thì thảm họa giáng xuống gia đình ông phải là một trong những thảm họa lớn nhất, khủng khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng của một con người. Cùng số phận với vợ con ông Thái còn có 65 người khác nữa đi cùng ghe VNKG 0980 đã chết dưới bàn tay bạo tàn của hải tặc Thái.

Số còn lại được hải tặc đưa vào đảo Kra, một hòn đào nằm trơ vơ giữa biển cả trong Vịnh Thái Lan. Đảo này bây giờ trở thành địa ngục của dân Việt Nam tị nạn bằng thuyền. Bởi vì bất cứ ai bị đưa vào đây đều trở thành nạn nhân của sự bạo hành: Tra tấn đàn ông để khảo của, và bắt chỉ chỗ trốn của phụ nữ, còn phụ nữ thì lẫn lút trong hốc núi, trong rừng sâu hay trong vách đá ngầm nhô ra ngoài biển. Trên đảo có nhiều dấu tích thảm thương của đồng bào đi trước để lại như những hàng chữ viết lên vách đá, những mớ tóc đàn bà vương vãi rải rác khắp mọi nơi (chắc là được cắt đi để giả trai) và cả những xác thuyền, những ngôi mộ của những người đã bỏ thân nơi đây.

Số người còn lại của thuyền ông Thái được đưa lên đảo vào lúc chiều ngày 31 Tháng 12, 1979. Lòng đớn đau, thân xác rã rời, suy yếu, các em ông Thái phải tìm kiếm cỏ khô trải thành nệm cho ông nằm, tìm kiếm thức ăn để được sống sót. Vì ông Thái quá yếu nên người em, chú Chiếu đã phải đi mày mò khắp mọi chỗ, bòn nhặt những vật dụng vương vãi của đồng bào đi trước bỏ lại để tìm những viên thuốc vữa nát, mòn vẹt... Ông Thái vẫn cố nuốt xuống để cầm cự qua cơn suy sụp. Sáu ngày trên đảo là sáu ngày buồn thảm, kinh hoàng. Đói, bệnh, và những nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của tâm hồn ông. Trong khi ấy, các phụ nữ đi cùng ghe phải lẩn trốn như những con vật tuyệt vọng không phương thế, khả năng tự vệ những cuộc lùng sục, hiếp, giết mất tính người của bọn hải tặc Thái.

Cùng lúc với hải tặc Thái, quân đội Thái Lan cũng góp thêm phần đày đọa lên nhóm người Việt bất hạnh. Ngày 1 tháng 1,1980, một chiếc tàu Hải Quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thóat, nhưng lính Hải quân Thái chẳng chút thương tâm đoái hoài đến dân Việt tị nạn đang lâm cảnh khốn cùng. Lính thái bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái để khám xét (?). Không tìm kiếm được gì, nhóm lính tàu 18 bỏ đi. Qua ngày 2, một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân, trần truồng trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét! Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 4 tháng 1 mới bỏ đi.

(Còn tiếp)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn