01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6162)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16745)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5114)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4663)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4748)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Mỗi người một số phận...

04 Tháng Tám 201510:35 SA(Xem: 1500)
blank
Khi quán cà phê LH ở một góc phố Westminster thay đổi chủ tạm đóng cửa để sửa chữa  nhiều khách hàng quen thuộc của quán này cũng hơi buồn vì họ đã mất đi một nơi tụ họp uống cà phê vào mỗi cuối tuần. Những người này phần đông là những cựu tù nhân H.O. hay họp nhau vào những sáng chủ nhật để hàn huyên tâm sự sau một tuần bận rộn mưu sinh.
Thông thường cứ vào cuối tuần, quán LH rất đông khách, phần lớn khách của quán là những anh em H.O. nên quán còn được gọi thân mật là Quán Hát Ô. Ông chủ quán vốn cũng là một H.O. gốc TQLC có mái tóc húi cua bạc trắng nên quán còn được anh em đặt tên là Quán Ông Gìa Đầu Bạc. Có lẽ vì nhân thân của ông chủ quán như vậy nên quán rất được các anh em H.O. ủng hộ. Họ thường tụ họp ở đây cả giờ mà chỉ với một ly cà phê. Đối với họ, ly cà phê chỉ là cái cớ để họ có dịp ngồi lại bên nhau chuyện vãn cho vui đời tị nạn. Họ thường tụ lại thành từng nhóm, nhưng đông nhất là nhóm các cựu TQLC, bạn cùng binh chủng với ông chủ.  
Kể từ ngày quán LH tạm đóng cửa, các nhóm bạn cà phê đã mất đi một nơi quen thuộc để cuối tuần gặp nhau cà kê dê ngỗng. Không còn LH, mọi người đành di tản tìm đến những quán cà phê khác. Ở vùng Little Saigon có khá nhiều quán cà phê, có khi còn ngon và hấp dẫn hơn LH, nhưng tìm được một nơi có không khí bình dân thân mật như cái quán H.O. này thì quả thật cũng khá hiếm.
Cũng giống như các nhóm khác, không có LH để họp nhau cuối tuần, nhóm chúng tôi cũng buồn năm phút. Sau ít lần rủ nhau đi uống cà phê ở một vài nơi khác, một hôm, có lẽ để thay đổi không khí, anh Tôn trong nhóm đã ngỏ ý mời các bạn đến vườn nhà anh uống cà phê. Mọi người hưởng ứng ngay. Lúc đầu tưởng chỉ là tạm thời, nhưng không ngờ, sau này khi quán LH mở cửa lại, các bạn đã quen hơi cà phê vườn rồi không muốn trở lại LH nữa. Thế là từ đó hàng tuần nhóm bạn chúng tôi đã có thêm mục uống cà phê vườn nhà anh Tôn thay cho việc ra quán.
Vườn sau nhà anh Tôn là một sân rộng có khá nhiều cây cối xum xuê, phần lớn là những loại cây ăn trái rất thông dụng trong những vườn nhà của người Việt. Như cam, quýt, ổi, chanh, hồng, lựu, thanh long,…; hay những loại rau lá, bầu bí, mướp, dưa, v.v… Anh Tôn đã dành ra hẳn một góc sân để làm nơi cho bạn bè tụ tập uống cà phê. Mọi người ngồi chung quanh một cái bàn dài với một số ghế xếp hay ghế nhựa nhiều ít tùy theo số người có mặt. Để tránh mưa nắng, sau đó anh Tôn đã dựng lên một cái lều nhỏ, loại tiền chế, để làm chỗ cho các bạn tụ họp. Đặc biệt, vào những ngày có những trận thi đấu thể thao hấp dẫn như World Cup hay Super Bowl, … anh Tôn còn đem cả TV ra ngoài lều cho anh em đến xem và uống cà phê. Mọi người vừa xem TV vừa reo hò bàn tán ồn ào không kém gì ở những tụ điểm bên ngoài. Còn những lần khác, mọi người vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe chim hót và ngắm nhìn cây cối quanh vườn cũng rất vui.  Không khí lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt chẳng khác gì ở quán. Đến lúc uống cà phê xong, có khi nhiều bạn còn tiện tay “chôm” về những trái cây, rau lá từ vườn nhà của khổ chủ.   
Ở quán LH, mọi người uống cà phê phải trả tiền, dĩ nhiên, nhưng ở quán cà phê vườn này, các bạn được anh Tôn đãi uống cà phê miễn phí. Cà phê được anh pha chế sẵn trong coffeemaker, ai muốn uống cứ tự nhiên self service với đường hay sữa tùy thích. Ai cũng vui vì vừa được uống cà phê chùa, vừa được có một chỗ ngồi đấu hót hàng giờ mà chẳng sợ bị phiền hà như khi ngồi ở quán.
Mỗi lần tụ tập uống cà phê như vậy lại là dịp để cho mọi người tha hồ bàn hươu tán vượn về đủ mọi chuyện. Mọi người cười nói, trò chuyện ồn ào vang cả một góc vườn. Từ chuyện thời sự đến chuyện cộng đồng, rồi chuyện cá nhân đến chuyện tập thể. Hết những tin tức thời sự hay cộng đồng là những chuyện vụn vặt trong bạn bè hay một cá nhân nào đó. Có những tin chưa thấy xuất hiện trên báo mà đã được mọi người đem ra bàn tán sôi nổi.
Một ngày cuối năm, anh Tuấn, một người trong nhóm, mới đi Việt Nam thăm thân nhân về kể chuyện có gặp anh Sáng, một người bạn đồng nghiệp cũ mà nhiều bạn trong nhóm đều biết. Sáng hiện đang sống ở Mỏ Cày, Bến Tre, rất nghèo khổ và tội nghiệp. Nghe tin này ai cũng ngạc nhiên hỏi: “Ủa! Sáng bị tù “cải tạo” tới 13 năm mà sao bây giờ vẫn còn ở Việt Nam? Tại sao Sáng không đi Mỹ theo diện H.O?”
Câu chuyện về người bạn có số phận hẩm hiu này sau đó đã được anh Tuấn tóm tắt lại như sau.
Sau ngày 30 tháng Tư, 1975, anh Sáng cũng như bao quân cán chính VNCH khác phải đi tù cải tạo. Là một sĩ quan cấp tá, Sáng cứ tưởng mình chỉ phải đi “học tập cải tạo” trong một tháng như thông cáo của ủy ban quân quản dành cho sĩ quan cấp tá; thế nhưng không ngờ đó là một cú lừa của cộng sản để đưa các sĩ quan chế độ cũ tự nộp mình vào tù. Sau đó, do Sáng là một thiếu tá ngành cảnh sát đặc biệt nên mãi 13 năm sau anh mới được trả tự do.
Ngày anh Sáng vào tù, vợ anh đang mang bầu đứa con út được ba tháng. Tưởng chồng chỉ đi “học” một tháng rồi về, nhưng không ngờ một tháng, hai tháng rồi mãi vẫn không thấy chồng trở về, chị đành mang mấy đứa con về quê ngoại ở Mỏ Cày tá túc nhà cha mẹ ruột. Sáu tháng sau, chị hạ sanh một bé trai. Để ghi nhớ ngày vợ chồng vì thời cuộc phải chia ly xa cách chị đặt tên cho con là thằng Ly.
Về quê sinh sống, chị Sáng phải bắt đầu một cuộc sống mới hoàn toàn khác hẳn. Chị chẳng biết làm gì để kiếm sống ngoài việc phụ giúp công việc đồng áng trên một mẫu đất của cha mẹ. Nhưng đến khi mọi người bị ép buộc phải vào hợp tác xã nông nghiệp thì cái mẫu đất ấy cũng không còn nữa. Cha mẹ chị bất đắc dĩ đã bị trở thành một xã viên hợp tác xã làm việc như những tá điền làm thuê ngay trên thửa ruộng của mình để được chấm công điểm. Công điểm sau đó mới được qui ra thóc gạo và nhu yếu phẩm như một hình thức trả lương.
Còn chị, vì là vợ của một sĩ quan “ngụy” ngành cảnh sát sát đặc biệt, một thành phần bị cho là ác ôn, bóc lột nên không được thâu nhận vào làm. Không những vậy, chị còn bị chúng bắt phải đi lập nghiệp ở vùng kinh tế mới nhưng chị lấy lý do các con chị còn quá nhỏ để cứ nấn ná ở lại. Tuy nhiên, để được an thân như vậy, chị phải đem bán những tư trang mà vợ chồng dành dụm được để lo lót cho bọn cán bộ xã ấp. Đó là bài học “đầu tiên” (tiền đâu) mà chị học được dưới chế độ xã hội chủ nghĩa của cộng sản. Sau đó, chị đã tận dụng cái khoảnh đất còn lại ở sau nhà cha mẹ để tập tành trồng rau, trồng bắp, trồng cải,… rồi thu hoạch đem ra chợ bán kiếm sống qua ngày. Cũng may hồi nhỏ chị có ở dưới quê một thời gian trước khi lập gia đình nên nay công việc ruộng vườn chị làm quen cũng mau chóng.
Mãi hơn một năm sau ngày 30/4/1975, khi đi làm sổ mua gạo và nhu yếu phẩm – thời gian đó, gạo và các nhu yếu phẩm được bán theo sổ phân phối –  chị mới sực nhớ chưa làm giấy khai sanh cho thằng út. Không có giấy khai sanh, nó sẽ bị mất khẩu phần gạo và có thể sẽ không được đi học khi lớn lên. Thế là chị phải đi làm giấy khai sanh cho nó trễ mất hơn một năm. Và đó cũng là lý do mà sau này đã làm cho gia đình anh chị không được xuất cảnh đi Mỹ theo diện H.O. như những cựu tù “cải tạo” khác.
Đến giữa năm 1988, anh Sáng mới được trả tự do sau hơn 13 năm tù trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc. Ngày anh ra tù cũng là lúc bắt đầu có những tin đồn các cựu tù nhân chính trị nguyên là những người của chế độ cũ nếu đã bị tù từ ba năm trở lên sẽ được đi Mỹ định cư theo một thỏa thuận giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam. Dĩ nhiên, chẳng riêng gì anh Sáng mà có thể nói hầu hết các anh em tù đều rất vui mừng đón nhận tin này. Ai cũng mong mỏi tin đó sẽ là sự thực để mọi người được thoát ra khỏi cảnh đọa đày, phân biệt đối xử dưới chế độ cộng sản dù đã ra khỏi nhà tù sau nhiều năm tù “cải tạo”.
Cho nên khi nghe tin chương trình tái định cư các tù “cải tạo” đã chính thức bắt đầu vào năm 1989, vợ chồng anh Sáng rất mừng. Anh chị đã chạy vạy khó nhọc lắm mới nộp được đơn xin xuất cảnh theo chương trình mà sau này gọi là H.O. Sau bao nhiêu ngày chờ đợi, hồi hộp và hy vọng; cuối cùng cả gia đình anh đã được mời đi lên Sài Gòn phỏng vấn. Cả nhà ai cũng khấp khởi vui mừng vì nghĩ với 13 năm tù của anh, mọi người sẽ dễ dàng được Mỹ chấp thuận cho đi Mỹ. Thế nhưng oái oăm thay khi vào phỏng vấn, phía Mỹ đã nghi ngờ anh khai man lý lịch. Họ cho rằng thằng cu Ly không phải là con anh vì theo giấy khai sanh của nó, nó được sanh ra lúc anh vào tù đã được hơn một năm. Anh Sáng đã giải thích cho người phỏng vấn hiểu rằng, thằng út chính là con anh. Khi anh bắt đầu vào tù thì vợ anh đã mang thai nó ba tháng. Sáu tháng sau, trong lúc anh còn đang ở tù thì chị sanh nó. Vì cuộc sống quá cực khổ ở thôn quê và vì quá bận rộn để mưu sinh nên vợ anh đã quên và làm khai sanh trễ cho nó. Nhưng dù đã giải thích như thế, người phỏng vấn viên vẫn không tin và không chấp nhận. Ông ta từ chối hồ sơ H.O. của anh và vẫn cho rằng anh “man khai lý lịch”, ghép tên con của người khác làm con mình để mang sang Mỹ (!). Quá tức giận về kết luận của người phỏng vấn, anh Sáng đã giận dữ đứng lên lớn tiếng phản đối:
- Ông không được nói như vậy. Tôi yêu cầu được thử nghiệm DNA để xác minh thằng Ly có phải là con của tôi hay không.
Người phỏng vấn lắc đầu nói: “Đó không phải là công việc của tôi”.
Nghe kể chuyện, các bạn trong nhóm hỏi: “Thế Sáng có khiếu nại không?”
- “Có chứ”, bạn Tuấn nói, “nhưng Sáng xui quá. Hai lần tái phỏng vấn, có cả thử nghiệm DNA mà Sáng vẫn bị từ chối.”
Mặc dù được tái phỏng vấn và hai cha con anh Sáng được thử mẫu DNA với kết quả thử nghiệm đồng nhất, nhưng không hiểu sao phía Mỹ vẫn không thay đổi quyết định. Anh Sáng vẫn bị Mỹ khước từ hồ sơ H.O. Theo anh Sáng, có thể người phỏng vấn viên ban đầu đã có ác cảm với anh vì anh “ đã lớn tiếng cãi lý với nó” nên anh đã bị người này đưa tên vào “hồ sơ đen”. Vì lý do này, cho nên dù có được tái phỏng vấn hai lần, anh vẫn bị Mỹ từ chối vì đã có “hạnh kiểm xấu” trong hồ sơ (?).  
Thế là giấc mộng đi Mỹ của anh Sáng đành phải gác lại. Vợ chồng anh lại tiếp tục  trở về Mỏ Cày để tiếp tục công việc chân lấm tay bùn như cũ. Đúng là cái vận số anh quá đen, nó cứ mãi đeo bám anh cho đến tận hôm nay.
Hơn hai mươi năm sau kể từ ngày bị rớt H.O., cuộc đời anh chị Sáng vẫn chẳng có gì khá hơn. Trong chuyến về VN vừa qua, anh Tuấn có gặp hai vợ chồng anh Sáng ở Mỏ Cày thật tội nghiệp. Họ chẳng khác gì hai ông bà gìa lam lũ ở miệt vườn dù tuổi đời của họ cũng chẳng khác gì các bạn trong nhóm cà phê ở đây. Cả hai đều mặc những bộ quần áo cũ bạc màu, thậm chí sờn rách. Anh Sáng vẫn tiếp tục công việc trồng trọt cực nhọc như ngày nào khiến cho có lần anh đã bị té ngã ngất xỉu ở trong vườn, may mà vợ anh thấy kịp thời đưa đi cứu cấp và may hơn nữa là anh chỉ bị ngã vì bị suy nhược chứ không phải do tai biến mạch máu não.
Biết tin này, các bạn ở Mỹ đã vận động quyên góp gởi về giúp anh chị Sáng một số tiền. Nhờ vậy, anh chị đã có một số vốn nhỏ để buôn bán lặt vặt kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Riêng các người con của anh chị Sáng nay đều đã trưởng thành và đã lập gia đình nhưng chúng cũng chẳng khá hơn bố mẹ; bởi vì do hoàn cảnh đặc biệt của gia đình sau 1975, chúng cũng không được học hành đến nơi đến chốn và vì vậy nay chúng cũng chỉ là những công nhân tầm thường với những đồng lương ít ỏi khiêm tốn.     
Kể chuyện về anh Sáng đã làm Tuấn liên tưởng đến một trường hợp tương tự nhưng may mắn hơn. Anh kể, anh có biết một người bạn H.O. tên Thơ cũng đang sống tại Quận Cam. Giống như anh Sáng, Thơ có một người con được sanh ra trong lúc anh còn đang ở trong tù. Người con này không bị làm khai sanh trễ như con anh Sáng, nhưng đặc biệt hơn, nó được sanh ra mãi mấy năm sau khi anh Thơ đã đi tù. Lý do vì có lần đang còn bị giam trong trại cải tạo, Thơ đã được trại cho phép thăm gặp thân nhân ở lại trại qua đêm. Cũng vì lần thăm gặp đặc biệt đó mà kết quả vợ anh đã mang bầu thằng con út. Cái bầu đã làm cho chị Thơ bị nhiều tai tiếng dị nghị, nhưng vốn là một người công giáo nên chị đành câm lặng, không giải thích và cũng không hủy hoại cái thai nhi. Chị nhẫn nhịn vì nghĩ dù sao nó cũng là giọt máu của vợ chồng chị.
Đến ngày nộp đơn xin định cư theo diện H.O., cả anh Thơ và vợ đều băn khoăn chưa biết phải xử trí như thế nào. Nếu khai tên thằng con út thì sợ bị loại, mà bỏ nó lại thì cũng không đành vì không biết sau này có bảo lãnh nó qua Mỹ được hay không. Cho nên sau cùng hai vợ chồng đánh liều cứ để tên hết cả nhà trong danh sách rồi hạ hồi phân giải.
Trong những ngày chờ đợi để được gọi đi phỏng vấn, anh Thơ suy nghĩ sẽ nên khai như thế nào về trường hợp đứa con út. Nếu khai nó là con của hai vợ chồng trong lúc anh còn đang ở tù thì có thể sẽ bị người phỏng vấn nghi ngờ khai man lý lịch, ghép tên của người không phải là con mình vào danh sách như nhiều người đã từng bị loại. Thật là tình ngay mà lý gian. Còn nói nó chính là con anh do kết quả của một lần vợ thăm nuôi chồng trong tù thì lại càng làm tăng thêm nghi vấn. Chẳng lẽ chế độ lao tù cộng sản tốt đẹp đến độ cho người tù được thăm gặp gia đình thân mật đến thế sao? Suy nghĩ mãi, cuối cùng anh Thơ đã nghĩ ra một cách để sẽ khai với người phỏng vấn.
Đến ngày đi phỏng vấn, đúng như anh Thơ dự đoán, phỏng vấn viên người Mỹ đã hỏi ngay anh rằng, thằng Út có đúng là con của vợ chồng anh không. Anh trả lời bằng cách nói nước đôi rằng:
- Nó đúng và không đúng là con tôi.
Ông phỏng vấn người Mỹ ngạc nhiên hỏi: “Thế nghĩa là thế nào?” Anh nói:
- Nó đúng là con của vợ chồng tôi vì nó do chính vợ tôi sanh ra nó. Nhưng nó không phải là con của tôi, hiểu theo nghĩa nó là giọt máu do tôi tạo ra, vì thời gian nó ra đời tôi còn đang ở trong tù.
Anh Thơ giải thích tiếp:
- Sở dĩ như vậy vì trong lúc tôi đang ở trong tù, vợ tôi phải tần tảo bán buôn để có tiền nuôi con và đi thăm nuôi tôi. Trong một lần đi buôn đường xa, vợ tôi đã bị một tên bạn hàng hãm hại cưỡng hiếp khiến cho bả bị mang bầu. Quá xấu hổ sau đó, vợ tôi đã toan tính tự tử nhưng vì thương chồng, thương con nên bả đành nhịn nhục. Hơn nữa cũng vì lý do nhân đạo, và vợ chồng tôi là những tín đồ công giáo nên không được phép phá thai. Đó là lý do ngày nay có sự hiện diện của thằng Út của chúng tôi ở đây.
Người phỏng vấn viên quay qua hỏi chị Thơ:
- Có đúng như vậy không?
Chị Thơ làm bộ mắc cở, cúi mặt xuống, khẽ gật đầu.
Nghe kể như vậy, ông phỏng vấn người Mỹ gật gù có vẻ thương cảm. Ông nói: “Đó là một thảm cảnh của gia đình ly tán vì tù đày bởi cộng sản mà gia đình anh là một nạn nhân, tôi đồng ý chấp thuận cho cả gia đình anh được sang Mỹ tái định cư.” Vợ chồng anh Thơ nghe vậy cám ơn ông Mỹ rối rít, ra về mà lòng vui vô hạn.
Nghe kể chuyện về anh Thơ, mọi người không khỏi tội nghiệp cho anh bạn Sáng kém may mắn. Phải chi ngày ấy có ai “cố vấn” mách cho anh Sáng cái câu chuyện của anh Thơ thì có lẽ số phận của anh đã khác. Phải chăng đó cũng là cái số? Mỗi người ai cũng có một số phận, có ai biết trước được số phận của mình sẽ như thế nào.
Toàn Như
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn