01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5673)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16347)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4818)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4396)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4528)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Sự Thật Thứ 5, Có hay không "cách mạng tháng 8"?

18 Tháng Tám 20159:50 SA(Xem: 1505)
Dẫn Nhập

Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945 Mỹ quyết định thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố kỹ nghệ Hiroshima và Nagasaki nhằm hủy diệt tiềm năng quân sự Nhật để mau chấm dứt chiến tranh sau khi đã thử sức với quân Nhật trong những trận chiến trên lãnh thổ của nước này. Trận Iwo Jima từ 19 tháng 2 đến 26 tháng 3 năm 1945 là một trong những trận đánh ác liệt nhất của chiến trường Thái Bình Dương mà phải sau một tháng giao tranh khốc liệt quân Mỹ mới chiếm được Iwo Jima với thương vong nặng nề của cả hai bên tham chiến.

Vì Iwo Jima là trận đánh đầu tiên của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản thế nên quân Mỹ đã phải đối đầu với một hệ thống phòng ngự dày đặc cùng với các công sự kiên cố, trận địa pháo được ngụy trang, địa đạo dưới mặt đất và sức chống trả ngoan cường của chiến binh Nhật dựa vào các hang động tự nhiên, và địa hình núi đá hiểm trở. Đỉnh Núi Suribachi điểm cao nhất trên hòn đảo và cũng là một vị trí phòng thủ quan trọng đã bị lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đánh chiếm vào ngày 23 tháng 2.

Hình ảnh Người Lính Mỹ cắm cờ trên đỉnh Suribachi với tên gọi Raising the Flag on Iwo Jima đã trở thành biểu tượng cho trận đánh và sức chiến đấu kiên cường của quân lực Mỹ. Đồng thời, Hồng Quân Liên Xô sau khi kết thúc chiến tranh ở mặt trận Châu Âu với Đức, đã xé bỏ Hiệp Ước Bất Tương Xâm ký với Nhật trước kia và tấn công đạo quân Quan Đông của nước nầy nhằm chiếm đóng vùng Mãn Châu ở Bắc Á.

Thấy rõ không thể cứu vãn được tình thế, ngày 15 Tháng 8 Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Và vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng đồng minh do Mỹ chủ tọa, đúng sáu năm và một ngày sau khi cuộc thế chiến bắt đầu kể từ ngày Đức xâm chiếm Ba Lan - Ngày 1 tháng 9 của năm 1939. Hậu quả của tình thế chung tác động trực tiếp đến các nước trong vùng Đông-Nam Á trong đó có Việt Nam. Và khi thế giới dần ra khỏi cơn ác mộng chiến tranh thì trên đất Việt lại bắt đầu dậy cơn lửa đạn với một lực lượng gọi là Mặt Trận Việt Minh do đảng cộng sản Đông Dương làm hạt nhân tổ chức và chỉ đạo. Đây là một chặng đường lịch sử vô cùng quan trọng vì đã tạo nên những biến cố quyết định liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt. Dẫu chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi của Tháng 8 và 9 năm 1945, tuy nhiên từ yêu cầu khách quan và sự thật của lịch sử đã đến lúc cần viết lại để giải thích hiện tình Việt Nam ở Thế Kỷ 21 nầy.

 

Một.

Trước tiên cần nhắc lại những sự kiện quan trọng: Ngày 9 Tháng 3, 1945 bằng một cuộc đảo chính quân sự ngắn ngủi người Nhật chấm dứt 80 năm đô hộ của Thực Dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Nhưng chỉ sau một thời hạn ngắn, vì buộc phải ký hiệp ước đầu hàng đồng minh với đại diện Mỹ giữ vai chủ tọa ngày 25 tháng 8 năm 1945 trên chiến hạm Missouri như phần dẫn nhập đã đề cập, quyền lực Nhật ở Đông Dương thật sự cáo chung khiến tạo nên một khoảng trống về quyền lực. Do quân đồng minh gồm liên quân Anh-Ấn chưa vào miền Nam (dưới vĩ tuyến 16), và quân Trung Hoa Dân Quốc chưa vào miền Bắc (trên vĩ tuyến 16) để giải giới quân Nhật theo như thỏa thuận của các cường quốc vừa thắng trận gồm Anh, Mỹ, Pháp, Liên Xô và Trung Hoa Dân Quốc nên tình thế Việt Nam rơi vào tình trạng một quốc gia vô chủ quyền. Sự kiện cũng có nguyên nhân do hậu quả của việc Nội Các của Thủ Tướng Trần Trọng Kim tuyên bố giải nhiệm, và Vua Bảo Đại thoái vị vì sự xúi dục có tính cách đe dọa của Phạm Khắc Hòe, một cán bộ cộng sản giữ chức chánh văn phòng nằm vùng bên cạnh nhà vua, và áp lực quần chúng do cán bộ cộng sản trong Mặt Trận Việt Minh vận động, tổ chức.

Sau ngày 9 tháng 3, 1945 Triều Đình Huế sau khi thâu nhận quyền lãnh đạo đất nước từ chế độ thực dân Pháp do người Nhật trao trả đã thực hiện một việc làm rất có ý nghĩa. Đấy là sự kiện, Ngày 17 Tháng 3 Vua Bảo Đại đã ban hành Dụ Số 1 với khẩu hiệu "Dân Vi Quý - Lấy Dân Làm Quý” làm phương châm trị quốc. Và nhà vua đã mời sử học Trần Trọng Kim về Huế để giao nhiệm vụ thành lập nội các với chính thể mới gọi là Đế Quốc Việt Nam.

Chính thể quốc gia nầy chỉ tồn tại trong 5 tháng từ 11 tháng 3 đến 23 tháng 8 năm 1945, tuy nhiên trong thời gian chấp chính ngắn ngủi nầy, chính phủ của Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã thực hiện được một công việc hệ trọng khẩn thiết là Tuyên Bố Độc Lập và Thống Nhất Đất Nước. Bắc Kỳ được sát nhập lại Đế Quốc Việt Nam vào ngày 2 Tháng 5, ông Phan Kế Toại được Vua Bảo Đại ủy nhiệm chức Khâm Sai Bắc Kỳ, Bác sĩ Trần Văn Lai giữ chức Đô Trưởng Hà Nội; các nhượng địa cho Pháp (theo Hòa Ước 1883, 1884) gồm Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng được trả lại trong Tháng 7. Riêng Nam Kỳ vì là nhượng địa của Pháp, và có sự tranh chấp của Cao Miên nên mãi đến 14 Tháng 8, 1945 mới được Khâm Sai NguyễnVăn Sâm làm lễ thâu hồi; chức Đô Trưởng Sài Gòn được giao cho cho Kha Vạn Cân.

Cũng theo dự tính, sẽ có cuộc bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam các công sở Phủ Toàn Quyền vào Ngày 15 Tháng 8. Nhưng tất cả dự kiến tốt đẹp nầy không theo kịp với tình hình sôi động của khu vực và thế giới, và quan trọng hơn hết là âm mưu và kế hoạch "cướp chính quyền- quả thật là một vụ đánh cướp chứ không thể nói cách nào khác" của lực lượng Việt Minh (với hạt nhân tổ chức, nhân sự chỉ đạo, điều hành là của đảng cộng sản) do Hồ Chí Minh thủ lãnh. Việt Nam mất một cơ hội thoát khỏi ách ngoại bang, các thế lực cường quốc chi phối, tiếp theo phải chịu đựng hai cuộc chiến tranh của thời đoạn 1946-1954, và 1960-1975 với giá máu đau thương thống hận vô lường của toàn dân tộc mà hệ quả bế tắc toàn diện qua Thế Kỷ 21 với hiểm họa Bắc phương càng ngày càng hiện thực.

 

Hai.

Trở lại vụ việc 1945, sau đảo chánh Nhật 9 Tháng 3, qua Ngày 11 Tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu Cố Vấn tối cao, Đại Sứ Nhật Yokoyama Masayuki vào Điện Kiến Trung để tuyên cáo nước Việt Nam Độc Lập. Bản Tuyên Cáo có chữ ký của sáu vị thượng thư Cơ Mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính. Nguyên văn chiếu chỉ đề Ngày 27 Tháng Giêng ta, tức năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại có nội dung: Cứ theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: "Kể từ ngày hôm nay, Hòa Ứớc Bảo Hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc Gia Độc lập."Theo tinh thần và lời văn tuyên cáo, Triều Đình Huế hủy bỏ Hòa Ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, áp đặt nền bảo hộ lên toàn cõi nước Việt.

Ngày 17 Tháng 3, Vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, các thượng thư đồng loạt từ chức; nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua gọi về Huế giao nhiệm vụ thành lập nội các mới như trên đã trình bày qua. Vua Bảo Đại nói với Cụ Trần: "Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước." (Một Cơn Gió Bụi, TTKIM, NXB Sống, CA 2015, trg 53).

Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi (MCGB), Cụ Trần Trọng Kim cũng đã có nhận định sáng suốt: "Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu Hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly, và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu Châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "Đồng Minh Cộng Nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình". Tuy nhiên, trên pháp lý và thực tế lịch sử, Nội Các Trần Trọng Kim là Chính Phủ Nghị Viện đầu tiên, và Ông Trần Trọng Kim là thủ tướng đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam Độc Lập.

Mặc dù chính phủ Trần Trọng Kim là một yếu tố chẳng đặng đừng của lịch sử được khai sinh do nhu cầu quân sự-chính trị của Nhật tại Đông Dương trong lúc nước nầy đang bị đồng minh bao vây khẩn cấp như đã trình bày. Tuy nhiên chính phủ Trần Trọng Kim cũng có đủ đại diện ba miền gồm Phó Thủ Tướng Trần Văn Chương gốc miền Nam; hai Bộ trưởng Hồ Tá Khanh và Trịnh Đình Thảo sinh tại Trung và Bắc, nhưng sống tại Sài Gòn khi được mời tham gia chính phủ. Sử sách của cộng sản và các học giả thiên tả thường hạ thấp giá trị những kế hoạch của chính phủ Trần Trọng Kim qua đánh giá chỉ là cải cách trên giấy tờ, thuần túy những tuyên cáo rất ít ảnh hưởng đến đám đông. Những lời cáo buộc mang tính võ đoán như "đấy là một chính phủ bù nhìn" hoặc nhẹ hơn là một "chính phủ kỷ trị". Nhưng mấy ai thấy ra rằng chính những nhân sự trong nội các Trần Trọng Kim ngay sau đó đã trở nên là những khuôn mặt ưu tú sáng chói nhất thuộc hàng ngũ trí thức lãnh đạo ưu tú của Việt Nam.

Chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh có mặt Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Phan Anh, Trịnh Đình Thảo; ngay cả Phạm Khắc Hòe, cán bộ cộng sản nằm vùng bên cạnh Vua Bảo Đại cũng không dấu nguyện vọng được cắt cử giữ một bộ hay một chức khâm sai. Cụ thể chương trình giáo dục do Bộ Trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn vẫn là một chương trình gần như hoàn chỉnh, với kết quả đã đào tạo nên nhiều thế hệ học sinh trung và tiểu học Việt Nam biết tôn trọng luân lý đạo đức, nghĩa vụ công dân, có tinh thần khai phóng và nhân bản. Chương trình giáo dục được áp dụng trên toàn nước Việt Nam trước 1954, và nơi miền Nam cho đến 30/4/1975, để bị thay thế bởi một chương trình gọi là "giáo dục xã hội chủ nghĩa". Mà 40 năm sau đã hiện rõ là một đường lối “trồng người” khiến nhiều thế hệ người Việt trở thành mất nhân tính, vô đạo đức, không ý niệm công dân.. Những đơn vị người gọi là "công dân mang căn cước của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” bị khinh miệt khắp toàn thế giới bởi thói quen ăn cắp, gian tham, và vô kỹ luật..

Sự tác hại không những kéo dài cho đến hôm nay mà cũng có ngay kết quả tai họa ngay những ngày tháng 4 năm 1945 khi Bộ Trường Tư Pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh mở cửa nhà giam phóng thích tù nhân chính trị, không thiếu phạm nhân hình sự. Như thế, vô hình chung, Việt Minh có ngay một một lực lượng cán bộ chính trị các cấp, cũng không thiếu những thành phần bất lương, tất cả đồng có mặt trong lần cướp chính ở những ngày tháng 8, 1945.

Sự tác hại không những kéo dài cho đến hôm nay mà cũng có ngay kết quả tai họa ngay những ngày Tháng 4 năm 1945 khi Bộ Trường Tư Pháp Trịnh Đình Thảo. ra lệnh mở cửa nhà giam phóng thích tù nhân chính trị, không thiếu phạm nhân hình sự. Như thế, vô hình chung, Việt Minh có ngay một một lực lượng cán bộ chính trị các cấp, cũng không thiếu những thành phần bất lương, tất cả đồng có mặt trong lần cướp chính ở những ngày tháng 8, 1945. Thảo cũng là người thêm một lần ăn phải bã độc cộng sản, với hư danh “Chủ Tịch Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam trong giai đoạn (1969-1976), kẻ đã chia bàn tiệc máu tàn sát Mậu Thân (1968) của cộng sản Hà Nội. Thảo được trả công với chức vị Đại Biểu Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá VI (1976-1981) sau khi cộng sản miền Bắc hoàn tất cuộc chiếm đóng Miền Nam, 1975.

 

Ba.

Cũng cần nêu rõ sự khác biệt giữa Chính Phủ Trần Trọng Kim và Chính Phủ Lâm Thời do Hồ Chí Minh thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau khi thực hiện cuộc chính biến gọi là cướp chính quyền từ Vương Triều Vua Bảo Đại, xô ngã nội các Trần Trọng Kim. Sự khác biệt ấy là Cụ Trần Trọng Kim và các Bộ Trưởng đã đặt nặng vấn đề Hiến Chương từ buổi họp lần đầu tiên trong ngày 4 tháng 5. Và một trong những quyết định hệ trọng là đổi Quốc Hiệu nên thành Việt Nam. Vào thời điểm 1945 đây là một vấn đề vô cùng khẩn thiết bao hàm Tính Thống Nhất lãnh thổ, bởi Việt Nam là Quốc Hiệu do Vua Gia Long đặt nên sau khi thống nhất ba miền vào năm 1802. Hơn thế nữa, đây là lần đầu tiên giới lãnh đạo ba miền đồng ý chọn quốc hiệu thiêng liêng cao quý nầy. Cũng bởi ngay trong Tháng 3 của năm 1945 kia giới lãnh đạo miền Bắc chỉ xử dụng danh xưng Đại Việt, trong khi ở miền Nam lại thích dùng từ “Việt Nam” và tại miền Trung thì dùng danh xưng “An Nam” hay “Đại Nam.”

Tưởng cũng nên ghi nhận kể từ năm 1925, Nguyễn Sinh Côn hay Hồ Chí Minh mới “Việt Nam Hóa” tổ chức thanh niên cộng sản do ông thành lập qua danh xưng Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội. Trước đó trong Thỉnh Nguyện Thư 8 Điều gởi Tổng Thống Wilson của Mỹ vào năm 1919 thì tên gọi của đảng chính trị đầu tiên do ông Côn đặt ra là An Nam Quốc Dân Hội. Năm 1930, ông Côn bị thất sủng với Ban Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản vì tự động thống nhất các chi phái cộng sản thành Việt Nam Cộng Sản Đảng! Vì bị kết án là có khuynh hướng quốc gia dân tộc nên Nguyễn Sinh Côn tức Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh đã bị Mạc Tư Khoa thay thế bởi Trần Phú. Ông Phú được chỉ định trách nhiệm triệu tập Hội Nghị Trung Ương lần thứ nhất ở Ma Cao để cải danh thành Đông Dương Cộng Sản Đảng.

Trong cùng lúc, tại miền Nam, các giáo phái và phe nhóm chính trị từ đệ tam tới đệ tứ cộng sản, lực lượng võ trang Bình Xuyên, các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài đồng loạt xuất hiện trên sân khấu của các hội trường và đường phố trong một tình cảnh cực độ hỗn loạn vì không có chính phủ trung ương thực quyền kiểm soát. Xứ ủy Nam Kỳ của Cộng Sản Đông Dương lại chia làm hai, nhóm thứ nhất gồm Trần Văn Giàu, Bùi Công Trừng, Lý Chính Thắng với các tổ chức gồm công đoàn, hiệp hội nông dân, Thanh Niên Tiền Phong xử dụng cờ vàng sao đỏ, Báo Tiền Phong làm cơ quan ngôn luận. Nhóm khác gồm Phạm Văn Vi, Nguyễn Thị Thập lập nên một xứ ủy Cộng Sản Đông Dương khác thuộc Mặt Trận Việt Minh với kỳ hiệu Cờ Đỏ Sao Vàng có báo Giải Phóng chống lại nhóm của Trần Văn Giàu.

 

Bốn.

Nhắc lại những điều kể trên không phải là vô ích. Với kinh nghiệm của những năm 30, 40 nên khi thành lập chính phủ trong ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, ông Hồ tuyệt đối che dấu nguồn gốc cộng sản của bản thân và các thành viên trong Mặt Trận Việt Minh. Sự che dấu toàn hảo đến nỗi không những chỉ quần chúng bị nhầm lẫn mà ngay những nhân viên tình báo Mỹ trong tổ chức OSS tiền thân của CIA sau nầy có thể cũng không khám phá ra tính chất và nguồn gốc cộng sản của những nhân vật gọi là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.v...

Quá trình và hậu quả của mưu đồ ngụy trang, che dấu nầy hiện thực cụ thể với hoạt cảnh như sau qua lời kể của nhân chứng Tô Hải viết lại trong hồi ký xuất bản gần đây tại hải ngoại: “Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, đồng bào kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội họp mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, Cờ Quẽ Ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo súng ngắn, đăng đàn diễn thuyết kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh đánh Pháp, đuổi Nhật đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng... Cuộc mít-tinh của các ông bà công chức quốc gia với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bỗng nhiên bị thay thế bởi một lá Cờ Đỏ Sao Vàng rất lớn thả từ bao lơn của nhà hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu yểm trợ Việt Minh và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao. Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh..." Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người không biết từ đâu đến hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!”

Diễn tiến thật sự của cuộc chính biến gọi là “Cách mạng Tháng 8” nhanh chóng thành công ở Hà Nội là như vừa kể ra.. Thế nên sau nầy các nhà viết sử cộng sản luôn dấu kín sự thật của biến cố Mặt Trận Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến hợp pháp của Thủ Tướng Trần Trọng Kim diễn ra trong những ngày tháng 8 và tháng 9 của năm 1945 tại Việt Nam. Biến cố Tháng 8, tháng 9 ở Việt Nam tương tự như lần lật đổ chính phủ của Thủ Tướng Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang rối loạn vào năm 1917 do vận động khuynh đảo của đảng cộng sản dưới quyền lãnh đạo của Lenin. Các nhà viết sử cộng sản cũng luôn dấu kín sự kiện ông Hồ đóng kịch hay cố tình bộc lộ tinh thần khâm phục đối với nước Mỹ khi soạn thảo văn kiện gọi là Tuyên Ngôn Độc Lập đọc tại Công Trường Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Ngày 1 tháng 9, trong vòng thân mật Ông Hồ đã kín đáo hỏi ý kiến viên Thiếu Tá OSS Archimedes Patti về việc lập lại lời mở đầu “Con Người sinh ra vốn bình đẵng..” của Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 Hoa Kỳ. Không hiểu ông Hồ có thực lòng phục Mỹ hay không nhưng chắc một điều ông đã cố dấu kín nguồn gốc cộng sản của bản thân đối với người Mỹ và điều nầy ông đã thành công trong một mức độ khả thể khiến sách sử, giới học giả báo chí Âu, Mỹ cho đến hiện tại như Halberstam, Karnow.. vẫn gọi cán bộ cộng sản quốc tế Nguyễn Sinh Côn, Linov, Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc, hay cuối cùng Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng quốc gia, dân tộc. Lịch sử hôm nay còn nhiều điều cần phải được soi sáng giải thích đúng với sự thật.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn