01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6162)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16745)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5114)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4663)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4748)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Sự Thật Thứ 6, “Không cách mạng”/Không “độc lập”

25 Tháng Tám 20159:48 CH(Xem: 1140)
Một.

Lần ngụy tạo diễn tiến cướp chính quyền trong những ngày Tháng 8, Tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Huế, Sàigòn không phải hoàn toàn là bất ngờ do tình thế đưa lại. Nhưng trong thực tế đã được ông Hồ và những cộng sự thân tín trong đảng cộng sản ẩn danh sau Mặt Trận Việt Minh chuẩn bị rất chu đáo để xô ngã Nội Các Trần Trọng Kim sau lần Vua Bảo Đại buộc phải thoái vị trong ngày 23 tháng 8.

Để soi rọi cho vấn nạn lịch sử nầy chúng ta cần trở lại nguyên lai của Mặt Trận Việt Minh thêm một lần. Mặt Trận Việt Minh xuất xứ từ danh xưng Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh do Nguyễn Sinh Côn tức Hồ Chí Minh thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 nhóm họp ở biên giới hai tỉnh Cao Bằng và Quảng Tây. Sự thực đây là một tổ chức trá danh do ông Côn tái sinh ra vì trước đây tổ chức này đã do nhóm Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần thành lập chính thức tại Nam Kinh năm 1936 dưới danh xưng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Nhưng Việt Minh Hội chỉ hoạt động được ít lâu rồi chìm vào quên lãng. Sau khi trực tiếp nắm Ban Chỉ Huy Ngoại Biên của Đảng Cộng Sản Đông Dương ở Côn Minh, ông Côn tức Hồ Chí Minh đã giao cho Phạm Văn Đồng làm Phó Chủ tịch Mặt Trận Việt Minh với hy vọng xâm nhập vào tổ chức Hoa Quân Nhập Việt của quan chức người Hoa trong lực lượng Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Bị lộ mặt cộng sản, các ông Đồng và Giáp phải trốn chạy về lại vùng biên giới Cao Bằng. Tháng 5 năm 1941, sau ngày rời Mạc Tư Khoa về Trung Hoa và trở lại Việt Nam, ông Côn và thuộc hạ chính thức chiếm dụng danh hiệu Việt Minh theo chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản, chuẩn bị cho giai đoạn tranh đoạt quyền lực tại Đông Dương, cụ thể là Việt Nam sau khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc.

Dưới bảng hiệu mới là “Đấu tranh chống Phát Xít Nhật và Đế Quốc Pháp,” Mặt Trận Việt Minh nín thở qua sông trong giai đoạn cai trị gián tiếp của Nhật từ 1941 đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật thực hiện đảo chánh người Pháp theo kế hoạch có bí danh là Meigo. Mặt Trận Việt Minh thành lập được hai đội du kích ở Cao Bằng và Lạng Sơn, nhưng những nỗ lực tái lập đảng tại đồng bằng miền Bắc và miền Trung rất hạn chế, trong khi mọi cố gắng để liên lạc thông suốt với Nam Kỳ trước lần đảo chánh Nhật đều bị thất bại.

Trong kế hoạch thanh niên vận và trí vận, từ mùa Hè 1944 Đảng Cộng Sản Đông Dương đã cho thành lập Đảng Dân Chủ với Dương Đức Hiền làm Tổng Thư Ký, Hoàng Minh Chính Bí Thư Đảng Đoàn để đưa vào Mặt Trận Việt Minh nhằm tăng thêm lực lượng thân cộng sản. Những người gốc miền Nam quen biết với Dương Đức Hiền cũng qui tụ quanh nhóm Thanh Niên của Huỳnh Tấn Phát mà sau này hóa thân thành Đảng Tân Dân Chủ dưới ảnh hưởng và sự chỉ huy của Xứ Ủy Nam Kỳ gồm Trần Văn Giàu, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Trấn tức Bảy Trấn v.. v.. Cộng sản Nam Kỳ chia thành hai Xứ Ủy như trên đã trình bày mãi tới tháng 4 năm 1945 mới liên lạc được với Trường Chinh ở miền Bắc.

Chiến dịch Meigo của Nhật đảo chánh Pháp giúp Đảng Cộng Sản Đông Dương tăng gia nhân sự từ các nhà giam được thả ra, cụ thể từ nhà tù Côn Đảo. Chiến dịch Meigo của Nhật còn mở cửa dư luận thế giới cho Việt Minh. Mặc dù từ năm 1942 các cơ quan tình báo Trung Hoa và Liên Bang Mỹ đã bắt đầu chú ý đến ông Hồ và tổ chức Việt Minh, nhưng tình báo Mỹ không khỏi nghi ngờ về lai lịch ông Hồ vốn là một cán bộ Quốc Tế Cộng Sản theo nhận xét của Thiếu Tá Archimedes Patti của cơ quan OSS đóng tại Hoa Nam. Cuối tháng 2 năm 1945 cho dù Việt Minh đã cứu thoát Trung úy William Shaw, một phi công Mỹ bị bắn rơi ở Cao Bằng, Tướng Claire L. Chennault Tư Lệnh Không Đoàn Cọp Bay đóng ở Vân Nam vẫn chưa đồng ý tiếp “ông Hoàng – Một bí danh mới của ông Hồ” cùng hai thuộc hạ đã đi bộ mười một ngày từ Pác Bó ở Việt Nam sang Vân Nam đề nghị hợp tác với người Mỹ.

 

Hai.

Chiến dịch Meigo (9 tháng 3, 1945) của Nhật lật đổ quân Pháp khiến viên chức Mỹ bỗng thay đổi hẳn thái độ. Sự thay đổi này do nhu cầu tình báo về hoạt động của quân lực Nhật tại Đông Dương, vì cuộc đảo chánh của Nhật đã cắt đứt hầu hết hệ thống tình báo mà trước đó người Pháp và người Hoa tại nội địa Việt Nam sẵn cung cấp cho Anh, Trung Hoa Dân Quốc và Mỹ. Từ năm 1943, lực lượng “kháng chiến Pháp” trong nội địa Đông Dương cũng âm thầm cung cấp nhiều dịch vụ cho Đồng Minh như tình hình quân sự, các vị trí đóng quân hay lộ trình di chuyển của quân Nhật.

Công tác tình báo đã góp công vào cuộc oanh tạc Sài Gòn và Cam Ranh trong ngày 12 tháng 1 năm 1945 đánh đắm 50 tàu đủ loại, và phá hoại tới 150 thủy phi cơ Nhật tại Cam Ranh. Từ tình hình thực tế nầy, cơ quan OSS ra lệnh cho Charles Fenn, một nhân viên OSS tại Đội Yểm Trợ Không Lực Dưới Đất gọi tắt AGAS được lệnh tiếp xúc với ông Hồ và đặt cho ông bí danh “Lucius” trước khi nhờ Hồ đưa hai nhân viên AGAS vào nội địa Việt Nam thiết lập đài truyền tin. Sau đó Patti đích thân bay sang Liễu Châu gặp ông Hồ. Do nhu cầu công vụ, Patti đã tảng lờ như không biết liên hệ giữa ông Hồ với Quốc Tế Cộng Sản nên đã xử dụng ông Hồ đồng loạt với các nhân viên tình báo Pháp.

Quyết định của Patti cực kỳ quan trọng, vì những ngày sau đó nhờ vũ khí Mỹ, thuốc men, trang cụ và đặc biệt là được Mỹ công nhận, Đảng Cộng Sản Đông Dương dưới chiêu bài Việt Minh sớm hồi phục khỏi tình trạng bị tan nát dưới tay Pháp trong giai đoạn 1939-1944.

Nhờ Patti và tình báo OSS Mỹ giúp sức, Việt Minh ra sức tự đánh bóng như một tổ chức duy nhất đang hợp tác với phe chiến thắng Đồng Minh, giành độc quyền kháng Nhật. Các toán vũ trang tuyên truyền và đoàn ám sát dưới sự chỉ huy của cán bộ cộng sản từng được tình báo Anh huấn luyện, nay hoạt động hầu như công khai ở Hà Nội và các vùng ven thị trấn. Hai ông Chu Văn Tấn và Võ Nguyên Giáp thành lập An Toàn Khu ở vùng Tuyên Quang-Bắc Cạn trải dài tới Cao Bằng.

Tháng 5 năm 1945, sau khi nhận lời hợp tác với tình báo Mỹ, ông Hồ di chuyển từ hang Pác Bó xuống Xã Kim Long Huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Toán Con Nai [Deer Team] của Thiếu tá Allison K. Thomas từng nhảy dù xuống Kim Long giúp Việt Minh huấn luyện khoảng 100 “bộ đội Việt-Mỹ” và cứu ông Hồ thoát khỏi cơn bệnh mười chết một sống.

Việc Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc chấp thuận sử dụng Việt Minh để thu thập tin tình báo về Nhật còn tạo cho Việt Minh sức mạnh tinh thần và vũ khí tuyên truyền sắc bén. Thế nên ngày 7 tháng 8 năm 1945 Vua Bảo Đại từng ra Dụ mời Việt Minh tham gia chính quyền, nhưng cả hai vị thượng thư do nhà Vua phái ra Hà Nội và vào Quảng Ngãi đều bị Việt Minh bắt giữ. Và như một lần đã trình bày, chính nhân viên OSS Archimede Patti là người đã chấp bút giúp ông Hồ viết nên bảng tuyên ngôn gọi là độc lập đọc trong Ngày 2 tháng 9, 1945 tại Ba Đình Hà Nội.

 

Ba.

Hôm nay sau 70 năm của Tháng 9 năm 1945 chúng ta có thể xác nhận rằng: Không phải Mặt Trận Việt Minh đã thống nhất đất nước dưới lá cờ cách mạng dân tộc. Nhưng tài liệu lịch sử đã xác minh rằng Chính Phủ Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã thu hồi quyền thống nhất lãnh thổ trước ngày Nhật đầu hàng, và quan trọng hơn là chuẩn bị tái nhập Nam Bộ vào lại lãnh thổ Việt Nam để thực thi sự thống nhất đất nước. Một sự thực khác là Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã từ chối đề nghị của các Tướng Nhật để dùng quân Nhật đàn áp lực lượng Việt Minh (MCGB, SĐD, Trg 85). Nếu cụ Trần không có lòng thương dân vì nước giữ tính trung lập thì ông Hồ và các cộng sự viên cộng sản trong Mặt Trận việt Minh hẳn gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chiếm đoạt chính quyền hợp pháp của Vua Bảo Đại. Hơn nữa nếu không có sự hoàn trả miền Nam từ 14 tháng 8 tới cuối tháng 9 năm 1945 thì những đòi hỏi thống nhất lãnh thổ của ông Hồ tại các bàn hội nghị sau năm 1945 sẽ thiếu hẳn cả tính cách pháp lý cùng sự đáp ứng nồng nhiệt của người dân miền Nam.

Những người làm công tác sử của nhà nước Cộng Sản Việt Nam hoặc vì thiếu tư liệu, hoặc vì có chỉ thị nên thường xuyên tạc vai trò của Chính Phủ Trần Trọng Kim. Và mặc dù Việt Nam chỉ được độc lập có điều kiện dưới chế độ Nhật, và dù đất nước chỉ được thống nhất gần cuối cuộc chiến, diễn tiến Việt Nam Hoá của Thủ Tướng Trần Trọng Kim rất hệ trọng. Thủ Tướng Kim đã loại bỏ ảnh hưởng của người Pháp từ việc chọn chữ viết theo mẫu tự La-tinh làm Quốc Ngữ tới sự đổi tên các đường phố, thị xã và ba miền; từ việc tự do lập đảng tới việc thay công chức Pháp bằng công chức Việt. Trái lại ngay trong buổi chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông Hồ đã yêu cầu thị dân Hà Nội tuyên hứa 4 điều không làm: “Thề không đi lính cho Pháp. Thề không làm việc cho Pháp. Thề không bán lương thực cho Pháp. Và Thề không đưa đường cho Pháp trở lại Việt Nam.” Nhưng không đầy một năm sau vào ngày 6 Tháng 3 năm 1946 ông Hồ đã thuận ký Hòa Ước Sơ Bộ để cho quân Pháp trở lại Bắc Việt. Để từ đây khởi đầu cuộc chiến mãi đến năm 1954 mới chấm dứt.

Từ những chứng cớ lịch sử kể trên, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập thứ hai do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều Ngày 2 Tháng 9 năm 1945, rõ ràng đã sau năm tháng so với Bản Tuyên Ngôn Thứ Nhất của Hoàng Đế Bảo Đại, 11 tháng 3, 1945. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Vua Bảo Đại trong tình thế người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ nên bản tuyên ngôn thứ hai này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết. Chưa kể tới sự kiện là Chính Phủ Lâm Thời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh thành lập vào ngày 2 Tháng 9, 1945 chỉ là kế tục nhiệm vụ chính trị của Chính Phủ Trần Trọng Kim của Triều Đình Huế sau khi Vua Bảo Đại tuyên cáo thoái vị cùng quốc dân trong Ngày 25 tháng 8 tại Huế. Phải nói rõ thêm một chi tiết: Chiếu thoái vị của Vua Bảo Đại đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh và chính phủ của ông chấp nhận như là một văn kiện căn bản để thành lập nhà nước lâm thời Ngày 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội.

Cuối cùng qua so sánh nội dung hai bản văn thì chúng ta thấy rõ rằng: Tuyên Cáo của Vua Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà Triều Đình Huế đã ký trước đó với nước Pháp để xác chứng độc lập quốc gia, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Bản Tuyên Ngôn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì lại nhắm vào vận động dân chúng người Việt mà phần đông ở Trung và ở Nam phần không mấy ai biết được Hồ Chí Minh là ai, kể cả cán bộ cộng sản với lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước…” Tuy nhiên ở những đoạn cuối, ông Hồ lại cố trình bày quan điểm chính trị với các nước đồng minh mà cụ thể là Mỹ.

Về tư cách, Vua Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, nhân vật lãnh đạo một quốc gia độc lập đã tồn tại trước khi người Pháp xâm lăng, đô hộ nước Việt ở Thế Kỷ 19.. Còn ông Hồ Chí Minh đã nhân danh Chủ Tịch của “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới”. Gọi là chính phủ lâm thời vì phải đến ngày 2 tháng 9 ấy, tổ chức chính quyền mới chính thức ra mắt trước quốc dân. Như thế một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì quốc gia từ hơn một trăm năm trước; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng cộng sản ẩn danh dưới chiêu bài dân tộc chủ trương chống Thực Dân Pháp lẫn Phát Xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền đi theo phong trào dân chủ của đồng minh Âu Mỹ vừa thắng trận. Thế nên, ông Hồ đã cố ý móc nối quan điểm của người Mỹ về Quyền Bình Đẳng, Quyền Được Sống Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc, cùng trích dẫn lời văn và nội dung của Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp 1789.

Những Quyền Làm Người căn bản mà những chế độ gọi là cộng sản kế tục chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh thành lập từ 1945 không hề thực hiện. Không bao giờ thực hiện kể đến hôm nay, Tháng 9 năm 2015 nếu không nói còn tồi tệ hơn. Hóa ra Dân Tộc Việt không phân biệt một ai của bao thế hệ từ 1945 đến giờ đã trả bằng triệu vạn sinh mạng cho một khởi đầu không hề được thực hiện từ 70 năm trước.

 

Bốn.

Không những không bao giờ thực hiện, nhà nước cộng sản Hà Nội còn gây nên những tai họa vô lường đối với sinh mệnh quốc gia, điễn hình qua sự kiện sau đây, cũng xẩy ra vào một ngày tháng 9 của năm 1958.. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, nhà cầm quyền Trung Cộng đã ra một bản tuyên bố và một bản đồ "9 đoạn” tự ấn định chủ quyền trên một vùng rộng lớn của Biển Đông, bao gồm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Thủ Tướng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng tại Hà Nội đã đáp ứng ngay quyết định sai trái của Bắc Kinh qua công hàm có nội dung sau đây: “Kính gởi Đồng Chí Chu Ân Lai Tổng lý Quốc Vụ Viện Nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Bắc Kinh. Thưa Đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng Chí Tổng Lý rõ : Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/58, của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin kính gởi Đồng Chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.”

Thủ Tướng Đồng ấn ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 tại Hà Nội. Với công hàm tai họa nầy, Bắc Kinh ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa của VNCH năm 1974, một phần của Trường Sa năm 1988.. Biển Đông đã mặc nhiên trở thành ao sau của nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa mà giới cầm quyền Hà Nội không một lời phản kháng. Ngư dân Việt Nam bị hành hình từ bao năm qua, trong hiện tại ngay trên vùng biển quê hương.

Không những chỉ gia tăng kiến thiết những đảo chiếm được của VNCH năm 1974, của nhà nước cộng sản năm 1988, hoặc vùng bãi cạn Scarborough của Phi Luật Tân năm 2012, nhà nước Bắc Kinh đang tích cực gia tăng gấp đôi diện tích đất trên Biển Đông mà họ có ban đầu. Họ tìm cách biến tuyên bố chủ quyền mập mờ về Đường Chín Đoạn, bao phủ gần hết toàn bộ Biển Đông thành một “chuyện đã rồi”. Hành động hiện nay của Trung Cộng là hành vi cải tạo địa lý nhằm mở đường cho tham vọng kiểm soát Biển Đông để từ đây đưa lực lượng hải quân đi đến vùng biển xa hơn theo hình thái của một Chuỗi Trân Châu, quá Ấn Độ Dương, quá Vịnh Ba Tư.. Chiến lược của Bắc Kinh không phải một sớm một chiều mới được hình thành nhưng đã bắt đầu từ 1949 sau khi thống nhất Hoa Lục với câu nói chỉ đạo của Mao Trạch Đông: Biển Đông chỉ yên khi nào thuộc về Trung Quốc!

Hóa ra chỉ có một lực lượng chận được sức bành trướng của người Hoa qua ngã Hà Nội là quốc gia tên gọi Việt Nam Cộng Hòa với những Người Lính Quân Lực VNCH trong suốt 21 năm (1954-1975). Quân Dân miền Nam đã chận được sức bành trướng của cả khối cộng sản chỉ với yêu cầu quốc hội, chính phủ Mỹ chuẩn chi 722 triệu quân viện cấp thời trong tháng ngày tuyệt vọng Tháng 4, 1975. Lời yêu cầu khẩn thiết nầy đã được hai Thượng Nghị Sĩ Cooper và Chuck đại diện Quốc Hội Mỹ trả lời: Một xu cũng không cho. Vâng, nay nước Mỹ đang chuyển trục về Châu Á với tất cả phi phỏng, bối rối trước mưu định thực hiện “Trung Quốc Mộng ” của Bắc Kinh kể từ lần từ chối tiếng kêu khẩn thiết của VNCH năm xưa! Hôm nay hỏi thử có ai trên thế giới đặt lại câu hỏi về Thảm Kịch Việt Nam – Mối thảm kịch 40, 50, 60, 70.. năm dài không đứt đoạn. Kể cả người Việt Nam trong mỗi chúng ta! Hỏi còn có ai?!

PNN, Sinh nhật 72 tuổi ( 9/1943- 9/2015)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn