01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5905)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16588)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4975)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4561)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4668)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Sự Thật Thứ 8: Ai Thắng Ai?

08 Tháng Chín 201510:38 CH(Xem: 1131)

Sự Thật Thứ 8: Ai Thắng Ai?

 

Phan Nhật Nam/Sống Magazine

 

Dẫn Nhập:

Vào dịp Tháng 8, 9 năm 2015 trên các diễn đàn mạng lưới điện tử có những bài viết của nhiều tác giả đề cập đến sự kiện xẩy ra nơi miền Bắc Việt Nam vào những ngày tháng 8, tháng 9, năm 1945 - Mà nay, 70 năm sau đã hiện nguyên trạng trước Quốc Dân và Lịch Sử là một TAI HỌA VÔ LƯỜNG.

Đại họa do đảng cộng sản Đông Dương của Hồ chí Minh tổ chức, lãnh đạo, điều hành. Sự Thật không thể phủ nhận nầy cho dù đối với những kẻ với ý thức gọi là cộng sản thuần thành chính thống nhất (?!). Lẽ tất nhiên loại trừ bầy lũ cầm quyền thuộc trung ương đảng nơi Hà Nội kia.. Những kẻ mà khi đọc đến tên gây nên một cảm giác nhờm tởm gọi là “bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh”.

Tuy nhiên, Sự Thật ấy cũng đã chạm đến lương tri, lương năng (nếu có) của những người đã một lần gọi là “đảng viên cộng sản” – Tức là tập thể nhân sự đã góp phần vào tai họa vô lường kể trên mà đến nay không thể biện minh, phản ứng khác được – Thành phần gọi là “(bỏ) đảng cộng sản” nầy lái vấn đề qua một hướng khác để “chạy tội”, cũng để giữ ưu thế gọi là “Chính danh rằng “Ta” luôn luôn đúng” trong mọi tình huống, nghĩa là : “Trước “ta” tham dự thâu đoạt vinh quang thắng lợi và nay, “ta” sáng suốt, can đảm lên tiếng phản tỉnh”.

Nội dung sau đây trên trang facebook cá nhân Lê Diễn Đức, cộng tác viên trước đây của Đài RFA, là một điển hình:

“.. Cả hàng trăm ngàn quân lính (VNCH-Pnn) trong tay, vũ khí xềnh xàng mà còn bị bộ đội Bắc Việt đánh cho tan tành, chạy chít chết, cuối cùng phải đầu hàng, thì vài chục người đi qua rừng núi Thái Lan dựng "chiến khu" với mục đích "Đông Tiến","phục quốc" chỉ là trò cười, ảo tưởng, chứ "anh hùng" cái nỗi gì. Đây đích thực là một cuộc làm "chiến khu" giả lừa gạt bà con hải ngoại nhẹ dạ để kiếm tiền, không hơn không kém! Niềm tin vào những "anh hùng vị quốc vong thân" ấy là niềm tin ngô nghê, mù quáng…”

Người viết sẽ trình bằng dữ kiện, số liệu cụ thể để chứng minh, “bộ đội Bắc Việt” kia đã “chiến đấu và chiến thắng” như thế nào nơi chiến trường Miền Nam trong giai đoạn 1960-1975. Và tai họa của “chiến thắng” kia đã đưa tới cho hôm nay (cũng là mai hậu) của vận mệnh Việt Nam mà chính bản thân Lê Diễn Đức đã rất thấm hiểu – Bài viết không hề do cảm tính yêu/ghét/phê bình/tố cáo cá nhân tên gọi Lê Diễn Đức nầy, vì biết rõ anh ta là gì? Ở đâu? Người viết trình bày vấn đề chung “Quốc Gia/Cộng Sản - Ai Thắng Ai”.

 

Một- Khởi Sự

Để độc già thuộc thế hệ trẻ tuổi (cỡ tuổi của Lê Diễn Đức) trong thời đoạn chiến tranh 1960-1975 biết về một trận chiến đã tạo tác động mạnh đối với chiến tranh Việt Nam, cũng là một chiến dịch điển hình trình bày về khả năng chiến thuật, kỹ thuật tác chiến của “bộ đội Bắc Việt” do đích thân Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Giáp, Văn Tiến Dũng.. tổ chức chỉ đạo. Lẻ tất nhiên không thiếu Hồ Chí Minh về phương diện chính trị của chiến dịch.

1968, vào những giờ cuối cùng ở Ngũ Giác Đài, McNamara xử dụng phần quyền lực còn lại sau 1558 ngày nắm giữ chức vụ trọng yếu nhất nền quốc phòng Mỹ để phủ quyết yêu cầu của Tướng Westmoreland về đề nghị tăng cường thêm 200.000 nhân sự bổ sung trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, và chiến tranh tâm lý. Đây thật chỉ là một thái độ đạp đổ, bởi McNamara đã giữ chức vụ lâu hơn bất kỳ vị tiền nhiệm nào, lâu đến bảy năm với khả năng quyền lực đặc biệt giành riêng qua hai đời tổng thống.

Danh tính McNamara đã được dùng để đặt tên cho một phòng tuyến căn cứ hỏa lực chạy dài từ Cửa Việt ở biển Đông đến Trại Lực Lượng Đặc Biệt Làng Vei sát biên giới Lào Việt - McNamara Line. Một tháng trước lần McNamara từ nhiệm, 36 của 44 tỉnh lỵ; 5/6 thành phố lớn; 64/242 thị trấn, quận lỵ thành phố Miền Nam đồng loạt bị tấn công bởi một lực lượng 323.500 bộ đội cộng sản miền Bắc gồm 97 tiểu đoàn, và 18 đại đội đặc công biệt động. Cuộc tấn công khởi đi từ đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, đêm 30 rạng 31 tháng 1, 1968.

Vào thời điểm 1968, chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một thất lợi tâm lý trầm trọng trong dư luận Mỹ Quốc, từ sự kiện ký giả W. Cronkrite có mặt tại Sài Gòn ngay trong Tháng Hai, khi trận chiến đang bùng nổ giữa những đường phố, để sau đó trong buổi phát hình ngày 27 cùng tháng, từ Việt Nam W. Cronkite người có khả năng lèo lái dư luận quần Mỹ đã mạnh mẽ xác định:” Hơn bao giờ hết, chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm đẫm máu tại Việt Nam sẽ phải mở ra một lối thoát”.

Lời tiên tri nầy được hiện thực bởi hòa hội Paris khai mạc vào cuối năm 1968 mà áp lực vốn có từ nhiều năm trước. Cụ thể lời như lời thúc dục của McNamara với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong lần viếng thăm Sài Gòn từ 1967: “Chúng tôi cần thương thuyết với Hà Nội để cho cuộc tuyển cử sắp tới (trong năm 1968)”, hoặc của Đại Sứ Bunker tại Sài Gòn: “Dư luận Hoa Kỳ đã trói tay tổng thống (Mỹ), thế nên phải có cuộc thương thuyết hòa bình (tại Paris) để chứng tỏ cùng Quốc Hội và Nhân Dân Hoa Kỳ rằng cả Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn đều mong muốn hoà bình”. Chủ trương phản chiến, yêu cầu chấm dứt chiến tranh không chỉ ở giới chính khách, báo chí mà còn phổ biến trong quân đội điển hình với trường hợp đào nhiệm của bốn thủy quân lục chiến nhân kỳ nghỉ phép ở Tokyo hoặc những cuộc đào thoát tỵ nạn tập thể sang các nước trung lập Bắc Âu.

Cho dù những sự kiện vừa kể ra đã là thực tế, nhưng Võ Nguyên Giáp sau nầy lại có nhận định với Ban Biên Tập Đặc San NAM rằng: ”Ý kiến cho rằng Trung ương Đảng đặt nặng vấn đề về các phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ trong quyết định tiến hành Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa ở Miền Nam là một nhận định kém cơ sở”. Mà thật sự phải là: “Trận chiến Khe Sanh và cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 là để hiện thực Nghị Quyết 13 Trung Ương Đảng đúng như phân tích của Khối Quân Sử, Phòng 5 BTTM/QLVNCH đã vạch ra.

Tóm lại mục đích của Tổng Công Kích năm 1968 của Hà Nội có mục đích là:

1- Dồn mọi nổ lực để chiến thắng về mặt quân sự (đối với lực lượng Mỹ, điển hình tại mặt trận Khe Sanh); buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi Miền Nam tương tự quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ.

2- Làm băng rã Quân Lực VNCH, chứng minh cùng dân chúng Miền Nam cũng như dư luận thế giới về sự lớn mạnh (chính trị lẫn quân sự) của phía cộng sản.

3- Chuẩn bị, củng cố vai trò chính trị Mặt Trận Giải Phóng trước khi hội nghị Paris sắp khai diễn.

Nhưng cũng có dư luận cho rằng đây là “đòn mật ước/không hề được xác định” giữa Hà Nội và Mỹ (qua trung gian của Liên Sô) để thanh toán hạ tầng cơ sở Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, giúp Hà Nội có cớ khuynh loát, áp đặt mạnh hơn đối với thành phần lãnh đạo cộng sản Miền Nam – Cụ thể điển hình là vai trò Nguyễn Chí Thanh, bị đánh thuốc độc sau bữa ăn với HCM , ngày 6/7/1967 tại Hà nội trước khi vào Nam dự trù chỉ huy trận Mậu Thân. Điều nầy đến nay vẫn là một “nghi án chính trị” chưa soi sáng đủ.

Tuy nhiên sau 1975, với lần thanh toán không nương tay cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” (1966-1975) qua hành động ngang ngược lộ liễu theo lệnh của Hà Nội. Đấy là diễn tiến bất ngờ biên chế tất cả lực lượng vũ trang của "chính phủ" kia chỉ trong một đêm trước ngày lễ duyệt binh 15 Tháng 5, 1975 tại Sài Gòn. Điều nầy cũng có thể dẫn chứng qua sự kiện “tận diệt” những binh đội cộng sản thuộc “Chính phủ lâm thời miền Nam” nầy với lối đánh thí quân không thương tiếc do những cán bộ khung đi từ Miền Bắc vào sau 30 Tháng Tư, 1975 chỉ huy ở chiến trường Campuchia, 1979. Nghi án chính trị vừa kể qua thực tế sau năm 1975 hẳn có mức độ khả thể đáng tin cậy.

Cho dẫu những mục tiêu chiến thuật (các thành phố); mục tiêu chiến lược (lật đổ chế độ VNCH, làm tan rã QLVNCH) đã không thể thực hiện được, tuy nhiên hằng năm những người lãnh đạo cộng sản vẫn ra lệnh làm lễ “kỷ niệm chiến thắng” Mậu Thân 1968. Và mỗi dịp Tết ở Huế, Sài Gòn.. khắp Miền Nam hằng có những đám cúng giổ cho những người đã chết từ Đêm Giao Thừa 30 rạng 31 Tháng Giêng, 1968 do súng, đạn và bị bộ đội cộng sản đập đầu chôn sống như ở Huế. Chúng ta cần trở lại những hoạt động quân sự liên hệ đến cuộc tổng công kích để nêu bật thành tích “Đánh cho Mỹ cút. Đánh cho Ngụy nhào” của “ bộ đội cộng sản miền Bắc” mà đến nay đã được gọi đúng tính chất, mục đích, yêu cầu là “..Đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc” nơi đền thờ Lê Duẩn ở Nghệ An.

 

Hai – Khe Sanh

Ngày 20 tháng Giêng 1968, Đại Úy W. H. Dabney chỉ huy Đại Đội I, Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 26 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tiến chiếm đồi 881, cao độ giữ mặt chính Tây và Tây-Bắc căn cứ Khe Sanh. Khe Sanh là vị trí tiền tiêu nằm trên đường Số 9 hướng biên giới Lào. Ý niệm hành quân phía Mỹ quyết định chọn Khe Sanh làm “điểm”, thu hút và tiêu diệt lực lượng cộng sản trong khuôn khổ hành quân Scotland. 5 giờ 30 sáng ngày 21, những quả hỏa tiễn đầu tiên của phía cộng sản đổ chụp xuống các vị trí pháo binh, bãi đậu xe, phi đạo dã chiến, sân trực thăng, hầm phòng thủ lực lượng đồn trú.

Mười ba tấn đạn đại pháo gồm 130 ly, hỏa tiễn 122, súng cối 82 ly đồng rơi xuống cứ điểm mở đầu chiến dịch dứt điểm Khe Sanh với lực lượng xung kích gồm hai sư đoàn bộ binh nặng 325C và 304 theo lệnh điều quân của chính Võ Nguyên Giáp; có một sư đoàn khác làm trừ bị, do chưa điều động vào vùng nên chỉ danh không được xác định. Khe Sanh, thật ra chỉ là một căn cứ hỏa lực nằm dọc đường Số 9, trên cao nguyên Lao Bảo, núi đồi vây chung quanh với những cao điểm chiến thuật có cao độ 881, 861 giữ hai mặt Tây, Bắc và Đồi 1015 ở phía Nam. Khe Sanh với chừng 6000 lính thuộc hai Trung Đoàn 1 và 4 TQLC trú đóng được xử dụng làm nút chặn trên đường nối biên giới Lào-Quảng Trị, nam khu phi quân sự hai-mươi lăm cây số, thượng nguồn sông Bến Hải.

Trận đánh không hoàn toàn là một bất ngờ, vì từ buổi sáng, Đại Úy Dabney đã nhận được một “người khách không mời“; đấy là viên trung uý bộ đội chính quy Bắc Việt hồi chánh với cây cờ trắng và bản tường trình chi tiết kế hoạch tấn công tiến chiếm Khe Sanh của phía cộng sản: “Từ Khe Sanh, bộ đội cộng sản sẽ điều quân về hướng Đông, dọc đường 9, đánh chiếm Quảng Trị, tiếp theo sẽ là Huế...” Nói chắc một ý niệm - Hành quân chiếm đóng toàn bộ phần đất Việt Nam Cộng Hoà bắc đèo Hải Vân.

Sự kiện viên trung úy hồi chánh kể trên chưa hề có trong cuộc chiến Việt Nam. Đấy là một trường hợp Lệnh Hành Quân bị tiết lộ một cách chính xác và mau mắn đến như vậy. Lại là xẩy ra từ phía cộng sản. Viên sĩ quan cộng sản hồi chánh cũng không quên chi tiết chính xác: Giờ G là 12giờ30 của Ngày N, 21 Tháng 1, 1968. (Giờ G của Ngày N: Giờ của Ngày Quyết Định Khai Diễn hành quân). Không chậm trễ, để đối lại, phía Mỹ huy động toàn bộ hệ thống hỏa lực gớm ghê của họ để “Khe Sanh không thể là một Điện Biên Phủ” với kế hoạch đánh bom mang bí danh Niagara, mà chỉ trong vòng 24 giờ của ngày 21 tháng 1, đã có đến 600 phi vụ do phi cơ Hải Quân và Không Lực Hoa Kỳ hiệp đồng thực hiện thêm với 49 phi xuất B 52 đến từ Thái Lan và đảo Guam.

Khi trận đánh kết thúc, chuyên viên hoả lực không yểm chiếc tính ra số liệu chính xác: Trong 77 ngày Khe Sanh bị vây hãm, Không Lực, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã thực hiện 24.000 phi vụ chiến thuật với 350 phi cơ gồm các loại A4, 6, hoặc 8 Skyhawk, và F4 Phantom. Đồng thời, B52 chiến lược cũng đã tham dự với 2700 phi xuất. Chúng ta nên biết thêm chi tiết: Mỗi chiếc B52 trung bình mang 108 quả bom; mỗi quả nặng 245 ký-lô. Tổng kết, trong 77 ngày chiến trận, chung quanh cứ điểm có chiều dài hai, chiều ngang một cây số gọi là Khe Sanh kia, trên những vị trí (có rất nhiều điểm chỉ là nghi ngờ) của hai sư đoàn 325C và 304 bộ đội Bắc Việt, đã có đến 110.000 tấn bom thả xuống. Không kể đến hỏa lực trực thăng võ trang và các giàn pháo 105, 175 ly của bộ binh Mỹ.

Ngày 1 tháng 4, 1968, Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ (U.S. Army's 1st Cavalry Division) mở hành quân Pegasus phá vòng vây cộng sản bao quanh cứ điểm. Ngày 5 tháng 7, lực lượng TQLC Mỹ cùng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, Tiểu Đoàn 3 và 6 ND/VNCH cùng bất thính lình rời vùng để lại Khe Sanh dưới cơn bảo lửa của B52. Sư đoàn 325 C bộ binh cộng sản Bắc Việt hoàn toàn bị xóa tên trên hồ sơ trận liệt.

Cần nhắc lại một yếu tố của chiến dịch “Điện Biên Phủ thứ hai” nầy: Bộ binh cộng sản Bắc Việt “chưa hề/không thể” tấn công vào căn cứ Khe Sanh. Có chẳng, chỉ đụng độ với các vị trí tiền đồn, ngoại vi Khe Sanh do TQLC Mỹ, Biệt Động Quân và Nhảy Dù Việt Nam trấn giữ.

 

Ba- Tổng Công Kích Mậu Thân

Nhưng Khe Sanh chỉ là cái cớ với những người lính tham chiến của hai phe. Nỗi ĐAU Mậu Thân thực sự xẩy ra ở nơi khác, với những người dân - Người Thường Dân của 44 tỉnh Miền Nam Nước Việt. Đêm Giao Thừa 1967 sang 1968, Đài Hà Nội phát ra lời “ Thơ Chúc Tết” của Hồ Chí Minh. Cái gọi là "Thơ" nầy có nội dung:

Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam -Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên toàn thắng ắt về ta!

Pháo ở Sài Gòn, các thành phố Miền Nam nổ nhiều hơn tất cả mọi năm. Nương theo tiếng pháo nầy, chỉ riêng với Sài Gòn, 84.000 ngàn bộ đội chính quy cộng sản đồng nổ súng hiện thực lời “Thơ Chúc Tết“ trên. Cảnh tượng bi thảm xẩy ra cùng lần trên 44 tỉnh lỵ Miền Nam với những ghi nhận đầu tiên:

- Vùng I Chiến Thuật, bao gồm những tỉnh cực Bắc của Miền Nam, từ Sông Bến Hải, Quảng Trị đến Đèo Bình Đê, địa giới thiên nhiên giữa Quảng Ngãi và Bình Định: Quảng Trị, 04giờ đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết (30-31 Tháng 1, 1968); Huế, 02giờ mồng 1 rạng mồng 2; Quảng Tín, Quảng Ngãi bị tấn công cùng ngày giờ như ở Quảng Trị.

- Vùng II Chiến Thuật (Những tỉnh từ Bình Định đến Phan Thiết và cao nguyên Trung phần): Tuyên Đức-Đà- Lạt, 02giờ đêm mồng 2 rạng 3; Bình Thuận, 3g25 đêm 2 rạng 3.

- Vùng III Chiến Thuật (Những tỉnh từ Long Khánh đến Long An, chung quanh Sài Gòn): Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, 02 giờ đêm 1 rạng 2; Long Khánh, 01g đêm 4 rạng 5; Biên Hoà, 03g đêm 2 rạng 3; Bình Dương, 4g25 đêm 2 rạng 3; Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 25 Bộ Binh QLVNCH, Hậu Nghĩa, 8g30 sáng ngày mồng 2.

- Vùng IV Chiến Thuật, những tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long: Phong Dinh 03 giờ sáng ngày mồng 3; Vĩnh Long, 3g0 sáng mồng 2; Kiến Hoà, 3g0 sáng mồng 3; Định Tường, 04giờ sáng mồng 3; Kiên Giang, 2g40 sáng mồng 3; Vĩnh Bình, 4g15 sáng mồng 3; Kiến Tường, 4g 15 sáng mồng 5; Bộ Tư Lệnh Biệt Khu 44, Cà Mâu, 1g 25 sáng mồng 7; Gò Công, 2g 35 sáng mồng 8; Bạc Liêu, đêm 12 rạng 13 âm lịch tức 10 tháng, 1968.

Trận đánh được bảo mật tối đa với những cán binh, bộ đội vũ trang, bằng giấy tờ giả mạo xâm nhập trước ngày, giờ khởi sự vào các thành phố, tỉnh lỵ, thị trấn, nơi đã có sẵn những cán bộ nằm vùng cơ sở lo việc tiếp đón, tiếp tế. Đặc biệt quan trọng là những đơn vị đặc công nội thành, thành phần cốt cán, mở đợt công phá đầu tiên vào những mục tiêu, dẫn đường cho lực lượng võ trang chính quy.

Từ cuối năm 1967, Hà Nội cũng đã cho xâm nhập vào Miền Nam hơn 300 cán bộ gồm thành phần giáo sư, giảng sư đại học, kỹ thuật gia điện ảnh, văn nghệ sĩ, kỹ sư, bác sĩ chuẩn bị phụ trách công tác trí vận. Nhóm chuyên viên nầy được phân đều cho các tỉnh để làm nòng cốt xây dựng mặt trận văn hoá-chính trị sau khi cuộc tổng công kích quân sự thành công. Trận đánh cũng hoàn toàn “bất ngờ và bảo mật” đối với những đơn vị, cá nhân thuộc lực lượng cộng sản tham dự tác chiến. Đa số, nếu không nói là hầu hết, chỉ là những thiếu niên nông thôn Miền Nam hoặc những bộ đội nhỏ tuổi Miền Bắc. Những người trẻ tuổi gọi là “bộ đội giải phóng” nầy trên đường xâm nhập vào thành phố, thị trấn Miền Nam đã được “học tập” một điều phấn khởi: “Vào tiếp thu những thành phố Miền Nam, nơi bọn Mỹ-Ngụy đang rẫy chết và Nhân Dân đã nổi dậy cướp chính quyền dưới lãnh đạo của cán bộ cơ sở Đảng”.

Nhưng khác hẳn với tuyên truyền và mục tiêu của cuộc tổng công kích đã xẩy ra những hoạt cảnh: Tập thể 152 cán binh, bộ đội Trung Đoàn Quyết Thắng ra hàng Tiểu Đoàn 6 TQLC ngày 17 tháng 6, 1968 tại Cây Thị, Gò Vấp, Gia Định. Tù binh nhỏ nhất thuộc đơn vị nầy, Nguyễn Văn Thắng 12 tuổi. Năm nay, có thể Thắng còn sống, mỗi lần Tết đến, không biết anh ta có nghĩ gì về cái gọi là “sự nghiệp giải phóng” mà anh đã từng thực hiện với tuổi trẻ của chính mình vào năm 1968, Cũng để làm cớ chứng cho ”chiến thắng của bộ đội cộng sản” mà kẻ sau nầy như Lê Diễn Đức cần nêu lên.

Tại Mặt trận Thành Phố Huế mà nay hằng năm vẫn có “lễ kỷ niệm nhắc lại chiến công thần thánh của quân dân thành phố Huế “ như qua cuốn phim 10 tập của đạo diễn Lê Phong Lan (?!).. Ngày 4 tháng Hai, 1968 năm ngày sau khi lực lượng cộng sản chiếm được một phần lớn Thành Phố Huế, Đài phát thanh Hà Nội loan báo: “Có khoảng một tá những kẻ ác ôn bị bắt giữ và trừng phạt.” Nhưng vào ngày 25 tháng Hai, khi Huế được chiếm lại, người ta nhận ra có một cuộc thanh trừng có tính toán đã được thực hiện.

Theo tài liệu bắt được từ phía Việt Cộng, thì bộ đội cộng sản đã hành quyết 1892 viên chức hành chánh, 38 cảnh sát viên, 70 cường hào ác bá. Khoảng 2800 tử thi được tìm thấy rãi rác khắp bờ rừng, ruộng lúa. Chắc chắn rằng những những người bị bắt đã bị chôn sống hoặc hành quyết bằng những phương thức tàn bạo nhất như đập đầu, bắc xuyên táo qua hàng loạt người cột bằng giây kẻm gai. Nhưng những kẻ (ở Mỹ hoặc nơi những thành phố phản chiến trên giới) chống đối sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam tiếp sức cho “đạo diễn” Lê phong lan (nêu tên ở trên) lại có cáo buộc lật lọng: “Những nạn nhân kể trên là do các cuộc không kích của không lực Mỹ và lính VNCH gây ra!” Nhưng sau đó, họ có thêm giải thích: “người chết “cũng” do phía cộng sản Bắc Việt khi thất trận rút lui”.

Tuy nhiên, tháng 9 năm 1969, Hà Nội tung ra luận điệu chế nhạo về việc tìm kiếm những xác chết (nạn nhân cuộc thảm sát Mậu Thân- Do chính phủ VNCH điều động tiến hành): “Đấy chỉ là những xác chết thối tha của bọn mang nợ máu (đối với nhân dân)”. Và Hoàng Phủ Ngọc Tường, dạy học ở Huế (bạn thiết của Trịnh Công Sơn) trong phần trả lời của đài truyền hình Mỹ (về những vụ giết người kể trên mà y giữ phần quyết định) đã bình thản trả lời: "Chúng tôi giết chúng như giết loài rắn độc".

Tóm lại, những toán ”Hành Quyết” đã thành lập những danh sách kín liệt kê công chức, nhà giáo, người tu hành.. Những người nầy bị hành hình sau một vài phiên xử có tính cách hình thức. Loạt thanh trừng thứ hai nhắm đến tầng lớp thân hào nhân sĩ, trí thức, những người có liên quan với chính quyền Mỹ và cuối cùng, giết luôn những kẻ đã “lỡ” nhìn thấy lần thảm sát hai loại nạn nhân kể trên.

Trong tổng số những người bị giết có Stephen Miller, Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, ba Bác Sĩ người Đức, và hai Nhà Truyền Giáo Pháp. Nhưng tài liệu báo chí, giới truyền thông Âu, Mỹ hoàn toàn không biết, không nói đến những chi tiết: Trong số những người chết ở Huế có nhiều người, rất nhiều người không thể nào “có nợ máu đối với nhân dân”, như Thượng Nghị Sĩ Trần Điền. Bởi, chính ông cũng là Giáo Sư Sử-Địa, cùng thời với cố học giả Nguyễn Thiệu Lâu và là Huynh Trưởng “Gà Hùng Biện”, Ủy Viên Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam; Linh Mục Bủu Dưỡng.

Bốn giờ chiều Ngày 24 Tháng Hai, năm 1968, hình ảnh bi tráng nhất của chiến tranh Việt Nam được hiện thực: Người xứ Huế, những người Lính chiến đấu ở Huế đồng một lần bật khóc khi LÁ CỜ VÀNG BA SỌC lên cao trên kỳ đài giữa mù sương và mưa bay Mùa Xuân Huế..

Vạn Quân Dân đã một lần bật khóc.

Khi lá Cờ Vàng Ba Sọc

Lừng lững lên cao..

Giữa mù sương xứ Huế sáng Xuân nào..

Hoạt cảnh bi tráng kể trên không thể nào do từ “chiến thắng của bộ đội cộng sản miền Bắc” được. Đừng ngụy ngôn, xảo biện.

 

Bốn- Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình Việt Nam, 1973:

Theo Điều 8a của Hiệp Định Ngưng Bắn và Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam, trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký kết 27-1-1973 những phe tham chiến tại Việt Nam sẽ trao trả hết số tù quân sự và thường dân nước ngoài hiện đang bị giam giữ, đồng thời phải trao đổi ngay danh sách đầy đủ về số tù nhân này trong ngày ký kết.

Vấn đề tù binh dân sự Việt Nam được qui định giải quyết trong một thời gian 90 ngày đặt căn bản trên Điều 21 (b) của Hòa Ước Genève. Vấn đề cụ thể và đau đớn của cuộc chiến, một cuộc chiến khốc liệt cao điểm của phương thức chiến tranh giải phóng, cuộc chiến tinh quái độc hại rối rắm nhất của nhân loại được giải quyết bởi 11 giòng gồm 195 chữ của Điều 8 Hiệp Định và bốn trang của Nghị Định Thư gói ghém toàn bộ cách thức giải quyết. Trong những ngày soạn thảo văn bản Hiệp Định và các Nghị Định Thư, không hiểu những người có nhiệm vụ bớt từng chữ, từng câu khi cố tình loại bỏ sự có mặt của quân đội Bắc Việt, của “nước Bắc Việt” để che dấu những thỏa thuận biển lận, thâm độc chính trị, có nghĩ rằng họ đang sửa soạn một bữa tiệc máu: Máu những người lính Việt Nam Cộng Hòa bị quân đội Bắc Việt bắt giữ khi giao tranh trong suốt cuộc chiến mở rộng từ 1960. Vì Điều 1 và 2 Nghị Định Thư /Tù Binh có bốn loại tù binh : Tù binh Hoa Kỳ và quân đội nước ngoài (Những nước đã tham chiến giúp VNCH), thường dân nước ngoài thuộc quốc tịch Hoa Kỳ hay của bất cứ nước nào khác (Phi, Úc, Nhật...) và hai loại tù dân/quân sự của miền Nam Việt Nam tức là tù do Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ và tù của Mặt Trận Giải Phóng!

Không có một giòng chữ nào gợi đến những người lính chính qui đã phát xuất từ Bắc Việt theo đường mòn Hồ Chí Minh vào tham chiến tại mặt trận B2 (Trị Thiên), B3 (Ba biên giới)... Không có một chữ, nghĩa dù mơ hồ để chỉ những tù nhân quân sự/bộ đội cộng sản Bắc Việt (như ý muốn của bài viết trên facebook của blogger Lê Diễn Đức) bị bắt tại trận địa, mình xâm câu “Sinh Bắc Tử Nam” ra đi từ Bắc vĩ tuyến 17.

Cả thế giới a tòng cùng quân cướp nước đi từ miền Bắc Việt Nam, và đau đớn hơn tất cả, hệ luận tất nhiên của hai điều khoản trên là Không có quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bị bắt bởi quân đội Bắc Việt...

Tóm lại: Chiến dịch Hạ Lào (2-1971), chiến dịch đánh vào hậu cần Cục R trên đất Miên (5-1970), rõ rệt nhất là cuộc tổng công kích vào miền Nam trong Tết Mậu Thân, 1968 và sau cùng là cuộc đại chiến mùa hè 1972, cuộc tấn công hậu hòa bình 1973.. Những cuộc giết người vĩ đại được hợp thức hóa thành chiến tranh cục bộ do phong trào “Nhân dân miền Nam giác ngộ yêu nước chủ động hoặc do Nhân dân Khmer và Pathet Lào kiên cường chống xâm lược Mỹ (Mỹ nào nơi Đông Dương sau 27/1/1973?!)” Người lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt trong các trận chiến nầy bị hư vô hóa, vô hiệu hóa và vô tính hóa.

Để trao đổi khi phái đoàn VNCH công bố bảng danh sách 26.750 tù nhân cộng sản bị giam giữ, phía phái đoàn cộng sản (Mặt Trận Giài Phóng) đưa ra số liệu 5.018 quân nhân VNCH bị bắt giữ được trong mười năm chiến tranh.

Có ai nghe tiếng kêu trầm thống của người tù mặt trận Hạ Lào nơi thung lũng Việt Hồng, xã Việt Cường, huyện Trấn Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn... Những Đại Tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ Đoàn Trưởng; Trung Tá Trần Văn Châu, Thiếu Tá Đức, các Đại Úy Châu, Thương, Trụ của Lữ Đoàn III Dù; Thiếu Tá Trần Ngọc Huế của Sư Đoàn I Bộ Binh và hằng trăm người của những toán Biệt Kích mang bí danh: Bear, Cat, Lance, Red Dragon, Remus.. Những Biệt Kích Quân bị bắt từ những năm đầu của thập niên 60, Nguyễn Hữu Luyện, Nguyễn Công Thành... ở “Cổng Trời” Quyết Tiến, Hà Giang - biên giới Việt-Trung, chịu đựng suốt hai, ba mươi năm (60, 70, 80...) cách đối xử tàn nhẫn đã vượt hẳn kỷ lục và kỹ thuật giết người của Đầm Đùn - Lý Bá Sơ, thuở Cộng sản còn trong giai đoạn “chuẩn bị cho tổng tấn công sau 1950”.

Danh sách trao trả do phía Cộng sản chuyển đến phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại Ba Lê không có tên những người tù kể trên. Phía Cộng sản nhận đủ 26.508 (do có 242 người hồi chánh tại địa điểm trao trả, không chịu về phía cộng sản Bắc Việt) không người không thiếu một tên.

Qua số liệu tù binh hai bên, rõ ràng có ngay câu trả lời đối với vấn đề “Ai Thắng Ai”, chưa kể 200,000 Hồi Chánh Viên? Tuy nhiên, đã có Ngày 30 Tháng 4, 1975 do quân, kinh viện hoàn toàn toàn bị Quốc Hội Mỹ cắt cắt bỏ. Hậu quả hôm nay, Tháng 9, 2015 Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc ngang nhiên hù dọa Hoa Kỳ và cả khu vực Đông Nam Á – Hậu qua của lần “chiến thắng” của bộ đội cộng sản Bắc Việt đối với quân lực VNCH. Xa hơn là lần cộng sản Tàu chiếm Hoa Lục năm 1949, do lần Mỹ áp đặt Quốc Dân Đảng Trung Hoa hợp tác với cộng sản Mao Trạch Đông! Đã biết hãy biết cho hết. Nói phải nói cho cùng...

 

Hậu Từ

Bốn mươi năm qua (1975-2015) kể từ buổi binh đao kết thúc.. Thắng, bại; công, tội của những bên lâm chiến đã được lịch sử chứng minh. Chỉ riêng Người Lính - Những Người Lính không trở về. Những Người Lính sống sót cùng Nỗi Đau không hề chấm dứt với khổ nạn Quê Hương. Trường hợp điển hình của Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù Nguyễn Văn Thọ là một trong những người lính phẫn hận kia.

Sau lần sống sót dưới cơn bão dữ đạn bom nơi Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Trung Tá Trần Văn Châu, Thiếu Tá Trần Văn Đức, các Đại Úy Lê Đình Châu, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Quốc Trụ.. thuộc bộ chỉ huy Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh ND được lệnh di chuyển ra Bắc với chân trần, trên thân người vết thương còn tươi máu.. Tại Hà Nội, họ được đưa ra trình diện báo chí (của miền Bắc và khối cộng sản) để làm cớ chứng: Quân đội Mỹ-Ngụy tấn công lãnh thổ của nước Lào (gọi là) trung lập. Đồng thời viên cán bộ chính trị cao cấp điều hành buổi họp báo cũng lên tiếng: "Cực lực bác bỏ lời tố cáo của báo chí miền Nam: "Cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam qua ngã Lào(!!)"

Đài phát thanh Hà Nội lớn tiếng rêu rao: "Trận chiến Đường 9 Nam Lào là một đòn sấm sét của lực lượng nhân dân yêu chuộng hòa bình của ba nước nước Đông Dương đã đoàn kết chiến đấu, đập tan âm mưu của tập đoàn thực dân mới Mỹ nhằm mưu định chiếm đóng Đông Dương mà ngụy quyền Sài Gòn là tay sai đắc lực nhất." Lời cáo buộc được cả thế giới "tin cậy" nên từ Hội Nghị Paris (1968-1973) trở về Hà Nội, bí thư Xuân Thủy được Đức Giáo Hoàng Paul VI tiếp kiến do những nổ lực gọi là "tái lập hòa bình ở Việt Nam" của y ta đại diện cho Hà Nội tại bàn hội nghị.

Chưa hết, thế giới lại "rất sáng suốt" trao giải Nobel (gọi là) Hòa Bình cho Lê Đức Thọ. Đây cũng là viên bí thư chiến dịch Hồ Chí Minh lần tiến chiếm Sàigòn (4/1975) với 16 sư đoàn bộ binh cộng sản Bắc Việt như lời than vãn của Kissinger, kẻ đồng nhận giải Nobel Hòa Bình với Thọ. Trong chiều hướng "tin cậy đối với cộng sản Bắc Việt", Hiệp Định Ba Lê ký kết ngày 27 Tháng 1, 1973 đã long trọng xác nhận "Hai bên miền Nam Việt Nam trao trả cho nhau những nhân viên quân sự được bắt giữ... " Với định nghĩa nầy, toàn bộ các sư đoàn bộ binh, khối lượng vũ khí khổng lồ gồm xe chiến xa, đại pháo của cộng sản miền Bắc nơi mặt trận Hạ Lào đồng được "hóa không" để trở thành "quân đội giải phóng Lào yêu nước" hoặc của "lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam"!

Và hệ quả tiếp theo là: "Không có tù binh VNCH nào của mặt trận Đường 9 Nam Lào trong danh sách trao trả theo Nghị Định Thư về Tù Binh của Hiệp Định Paris 1973. Văn bản được long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới, được 13 nước ký Định Ước Bảo Đảm Thi Hành bao gồm Liên Xô, Trung cộng! Màn dối gạt ngang ngược vô sỉ đối với thế giới tiếp tục hiện thực trong Ngày 30 Tháng 4, 1975 với sự đồng thuận của chính phủ Mỹ và toàn thế giới.

Một năm sau 1975, vào mùa Đông 1976 nhóm người tù miền Nam trong một buổi đi ra Đoàn (Đoàn 776) ở Yên Bái để lãnh gạo.. Chúng tôi nhận ra những người tù Hạ Lào: Đại Tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, Trung Tá Trần Ngọc Huế, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/2/SĐ1BB và nhiều anh em tù binh khác thuộc các binh chủng TQLC, BĐQ, BB, Thiết Kỵ, đông đảo nhất là những Biệt Kích Quân, tổng số của những tù binh VNCH rơi ra ngoài danh sách trao trả theo Hiệp Định Paris 1973. Đại Tá Thọ giữ nhiệm vụ chăn nuôi, Trung Tá Huế dầm suối chuyển cây gỗ.. Chúng tôi đứng nghiêm chào kính: Chào Đại Tá! Ông trầm giọng buồn phiền: Các em cố gắng nghe!. Vâng, tụi em cố gắng!

Mậu Thân tính đến nay là 47 năm. Sài Gòn mất đến nay là 40 năm. Câu hỏi về Sự Thật cộng sản – Cộng sản là gì? Cộng sản Việt Nam là gì? Vẫn còn giá trị hữu dụng đối với rất nhiều người - Những kẻ gọi là "trí thức" - Trí thức Việt, Mỹ, Pháp..v..v, và nay có thêm “trí thức phản tỉnh cộng sản” điển hình như Lê Diễn Đức, tác giả của trang facebook cùng tên, tiền đề của bài viết nầy.

Vấn đề thứ hai, việc ghi ơn, tưởng niệm đối với những người hy sinh cho Đại Nghĩa Quốc Gia sau 1975 - Đến nay vẫn đang tiếp tục qua nhiều hình thái, phương thức với nhiều thế hệ Người Việt – Thế hệ của người trẻ sinh trưởng rất xa sau 30/4/1975 - Thế hệ của Việt Khang, Huỳnh Thục Vy, Đỗ Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên.. Không thể cố ý ghép nhập nhằng vào những “tổ chức đối lập không thực” do Cục Tình Báo Hải Ngoại cộng sản Hà Nội ngầm tổ chức, giật giây. Danh tính Trần Văn Bá, Hồ Thái Bạch, Hoàng Cơ Minh, Lê Hồng, Nguyễn Trọng Ni.. mang giá trị cao quý của Liệt Sĩ Vị Quốc Vong Thân không khác Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái đầu thế kỷ hoặc Quý Liệt Vị Tướng Lãnh, Chiến Sĩ đã hiển linh về Trời trong Ngày 30 Tháng 4 năm 1975. Bộ đội cộng sản miền Bắc từ ngày thành lập (22/12/1944) đến nay KHÔNG CÓ MỘT DANH TÍNH NÀO NHƯ THẾ mà có rất nhiều (nhiều như tập thể đảng viên cộng sản, quân đội, công an nhân dân) đồng “chất/lượng” tương tự của “bộ trưởng quốc phòng” tên gọi Phùng Quang Thanh.

Người Lính Phan Nhật Nam

Thiếu Úy Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn