01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5454)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16136)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4709)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4308)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4450)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Con Người - Quân Đội - Vận Nước

30 Tháng Chín 201510:27 SA(Xem: 1929)
blank
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
 


Dẫn Nhập
.

Nhân húy nhật thứ lần 15 ngày mất (29 Tháng 9, 2001) của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị tổng thống của nền Đệ Nhị Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đài SBTN Trung Ương ở Nam California đã tổ chức một buổi Tưởng Niệm trang trọng. Đây không phải là sinh hoạt lễ giỗ thông thường đối với một cá nhân tướng lãnh đã khuất, nhưng là buổi đồng tế đối với Anh Linh tập thể Lính và Dân của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa mà danh tính Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa là một biểu tượng gắn liền vào giai đoạn lịch sử cực độ khó khăn của đất nước, 1955-1975.

Qua tưởng niệm, chúng ta nhìn lại quá trình hình thành và phát triển thành phần nhân sự lãnh đạo quân đội đã có mặt trên diễn trường chiến đấu 21 năm của toàn khối người Việt Miền Nam. Cuộc chiến đấu quyết liệt, gian khổ của Quân-Dân Miền Nam trong giai đoạn 1965-1967 dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, tiếp thời đoạn 1967- 1975 dưới lãnh đạo của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không là một quá trình đơn lẻ, biệt lập nhưng là một mắc xích quan trọng của chuỗi lịch sử không đứt đoạn về diễn trình đấu tranh liên tục bền bỉ trong suốt thế kỷ qua, mà tác động còn nguyên trạng với hiện tại.

 

 

I- Buổi khởi cuộc.

11- Tổng Thống Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu sinh tại Làng Tri Thủy, Xã Tân Hải, Quận Thanh Hải, Tỉnh Ninh Thuận (Nam Trung Phần). Ông là con trai út của một gia đình gồm 5 anh em trai , 2 chị em gái. Thân phụ là Cụ Nguyễn Văn Trung mất 1969 tại Sài Gòn; thân mẫu là Cụ Bà Bùi Thị Hành mất tại Pháp sau 1975. Ông có ngày sinh chính thức trong khai sinh là 5 Tháng 4, 1923, tuy nhiên theo phân giải của giới chuyên ngành tử vi, tướng số Sài Gòn trước 1975 thì ông hẳn phải có ngày, tháng, năm sinh là Ngày 11 Tháng 12 tức Tháng 11 Âm Lịch), năm 1924 - để có được một bản số tử vi gồm Năm, Tháng, Ngày, Giờ sinh mang yếu tố Chi Tý, đứng đầu của bảng 12 con giáp. Vì nếu căn cứ vào Số Quân 43/300.661 thì rõ ràng ông thuộc hạng tuổi trưng binh “20 tuổi” kể từ năm sinh, 1923; và Số Quân 300.661 tức thiết lập tại Quân Khu 3 theo phân định của Bộ Quốc Phòng Quốc Gia Việt Nam trước 1954 – Quân Khu 3 là quân khu vùng Nam Trung Bộ gồm các tỉnh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa. v.v..

Tuy nhiên theo kinh nghiệm của người chuyên ngành tử vi thì yếu tố ông sinh vào Tháng 11, năm 1924 có tính vượt trội hơn vì những người (đàn ông) sinh vào ngày, tháng, năm Tý Âm Lịch (đứng đầu 12 chi) thường có khả năng cơ mưu, quyền biến.. Những tính chất sau nầy ông đã thể hiện rất rõ nét.

12- Thưở nhỏ ông theo học Trường Tiểu Học Phan Rang, thủ phủ của Tỉnh Ninh Thuận, lên trung học tại Trường Pèllerin, Huế (Do các sư huynh Công Giáo phụ trách); tiếp Trường Kỹ Thuật Lê Bá Cang, Sài Gòn. Khi chiến tranh thế giới II chấm dứt, 1945, thế giới ra khỏi ác mộng binh đao thì dân Việt lại bắt đầu lần đại họa do đảng cộng sản Đông Dương tổ chức chỉ đạo, vận động quần chúng. Nhưng vào thời điểm 1945 ấy, mấy ai hay, kể đến hôm nay 70 năm sau vẫn còn một số đông người (người Việt lẫn người ngoại quốc) vì những lý do chủ quan hoặc khách quan đã không nhận ra sự thật đơn giản ấy cho dù họ có đủ trình độ tri thức, kinh nghiệm về lịch sử, chính trị. Đây là câu chuyện phần sau sẽ xác minh với nhân chứng hàng đầu - Trung Tướng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

13-Trở lại thời điểm 1945, người thanh niên Nguyễn Văn Thiệu cũng như thế hệ cùng lứa tuổi, hay nói đúng hơn của khối đông người Việt đồng nghe theo tiếng gọi “Lên Đường Cứu Nước” từ tổ chức Việt Minh mà hạt nhân chỉ đạo là đảng cộng sản do Hồ Chí Minh thành lập từ Thượng Hải năm 1930. Tổ chức nầy lúc ấy đã đưa hoạt động vào quốc nội qua tổ chức Mặt Trận Việt Minh gọi tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội được thành lập năm 1941 với sách lược vận động bạo lực chính trị vũ trang. Nói rõ hơn, tổ chức cộng sản của Hồ Chí Minh đã ngụy trang sau vỏ bọc Việt Minh, là một tổ chức có khuynh hướng quốc gia dân tộc do Hồ Học Lãm thành lập từ 1936 tại Trung Hoa.

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã cướp đoạt danh hiệu Việt Nam Độc Lập Vận Động Đồng Minh Hội và danh tính của Hồ Học Lãm để biến đổi nên thành tên họ của riêng bản thân và đảng cộng sản của ông ta cho đến hôm nay. Sự chiếm đoạt và tiếm dụng lịch sử nầy cũng không được mấy ai tìm hiểu vì giới sử gia đảng cộng sản Việt Nam cố tình bưng bít với những ngụy tạo giả mạo. Lịch sử Việt Nam hôm nay còn rất nhiều nghi án cần phải được giải tỏa và đính chính để theo đúng sự thật. Sự Thật thuần thành thuộc lịch sử không thể phủ nhận và che khuất.

14- Sau một năm từ 1945-1946 hoạt động trong phong trào Việt Minh đủ để người thanh niên Nguyễn Văn Thiệu biết và hiểu đúng thế nào là cộng sản. Cộng sản Việt Nam là gì, gồm những ai? Phải chăng từ kinh nghiệm nhận được từ thực tế khi tận mắt chứng kiến cảnh cán bộ cộng sản ẩn sau Mặt Trận Việt Minh tàn sát những thành phần thuộc các tổ chức quốc gia, dân tộc thay vì "Diệt Phát-Xít Nhật". Cũng bởi lúc ấy Nhật đã đầu hàng đồng minh trong ngày 15/8/45, và Thực dân Pháp lúc ấy cũng chưa kịp trở lại Việt Nam!

Hơn thế nữa, hai người anh lớn của ông Thiệu là các ông Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Kiểu mà sau nầy giữ chức vụ đại sứ VNCH tại Tòa Thánh La Mã và Trung Hoa Dân Quốc, vốn là cán bộ lãnh đạo Đảng Đại Việt là một tổ chức chính trị quan trọng ở miền Trung với chủ trương chống cộng triệt để. Cũng do phần tinh thần Nhân Bản, Nhân Ái của đạo Công Giáo ông nhận được từ cơ sở giáo dục đầu đời, Trường Pèllerin, Huế.. Tất cả kết thành nhận thức chính trị căn bản để sau nầy người lãnh đạo Nguyễn Văn Thiệu có lời diễn đạt vô cùng chính xác: Đừng nghe những gì cộng sản nói mà nhìn những gì cộng sản làm!

Nguyên lý thực tiễn nầy người Việt Nam nói chung, người miền Nam nói riêng thấm hiểu đủ với chính máu xương và mạng sống bản thân sau 30 tháng 4, 1975. Mối đau thương mà từ thập niên 60 nơi đất Bắc, Nguyễn Chí Thiện đã viết nên lời uất hận xót xa:.. Một bà già trên đất Bắc dù ngu. Cũng hiểu cộng sản đúng hơn nhiều chính trị gia hoàn cầu xuất sắc!

15- Rời hàng ngũ Việt Minh, anh Nguyễn Văn Thiệu trở lại trường học trong hai năm, 1946-1947 với Trường Hàng Hải Thương Thuyền. Nhưng cuối cùng, anh chối từ nguồn lợi tức tài chánh phong phú từ trường Hàng Hải Thương Thuyền mang lại sau khi tốt nghiệp. Tình thế nhiễu nhương, biến động sau năm 1945 tại Việt Nam khiến phần đông thanh niên Việt không thể an phận sống đời bình yên, thế nên người trẻ tuổi Nguyễn Văn Thiệu đã rời bỏ ngành nghề chuyên môn bình yên để trở thành Người Lính - Ông thuộc thế hệ sĩ quan đầu tiên của Quân Đội Quốc Gia là đội quân giữ nước trong những năm tháng khói lửa dậy nên suốt thập niên 1950, chỉ tạm ngưng với Hiệp Định Đình Chiến Đông Dương ký kết tại Genève, Thụy Sĩ.

Cùng lần biến cố lớn chia đôi đất nước, ngày 20 Tháng 7, năm 1954. Biến cố tiền đề của chiến tranh (1960- 1975) với kết thúc uất hận của Ngày 30/4/75 mà hậu quả và hệ quả nguy nan hôm nay với hiễm họa Bắc Kinh càng ngày càng hiển hiện do sự đồng thuận của hệ thống cộng sản cầm quyền nơi Hà Nội.

 

II - Quân Đội và Chính Trị

21- Thanh niên Nguyễn Văn Thiệu nhập học Khóa 1 Bảo Đại, sau cải danh danh thành Khóa Phan Bội Châu của Trường Võ Bị địa phương Huế. Đây là tiền thân của Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt trong giai đoạn 1950-1959, và sau cải danh thành Võ Bị Quốc Gia Việt Nam kể từ 1959 cho đến năm 1975. Trường Võ Bị địa phương Huế tuy chỉ kéo dài trong trong hai năm 1949-1950 nhưng đã cung ứng cho Quân Đội Việt Nam trước 1954, và Quân Lực Miền Nam Cộng Hòa sau nầy tám vị tướng lãnh gồm những danh tính tiêu biểu như Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Chuân, Huỳnh Văn Cao, Phan Hòa Hiệp.. Thiếu Úy Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp ngày 25 Tháng 9, 1949 đáo nhiệm đơn vị mới ở Mỏ Cày, Bến Tre. Ông tiếp tục tu nghiệp tại học viện quân sự Saint Cyr của Pháp trong năm 1950.

Trong hai năm 1951, 1952, Trung Úy Thiệu theo học các khóa Chỉ Huy Tham Mưu và Chiến Thuật, Tiểu đoàn Trưởng và Liên Đoàn Trưởng Bộ Binh tại Hà Nội. Quá trình thụ huấn và huấn luyện nầy đã giúp người sĩ quan trẻ thăng cấp nhanh chóng để trở nên một sĩ quan tham mưu xuất sắc giữ nhiệm cụ điều hành hành quân tức Trưởng Phòng 3 của Khu Chiến Thuật Hưng Yên, Bắc Viêt, 1953; Đệ Nhị Quân Khu, 1954; trở thành Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Ninh Thuận, 1955; trở thành chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, hai lần trong các năm trong các năm 1955 và 1958. Ông cũng đã theo học Khóa Chỉ Huy Tham Mưu cao cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ và Tình Báo tác chiến tại Okinawa, Nhật Bản vào năm 1958.

22- Hoạt động quân sự, các khóa học tham mưu kể trên rõ ràng đã chuẩn bị cho Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu có khả năng giữ những chức vụ cao hơn, tham dự vào những biến cố quân sự-chính trị sau nầy. Đầu tháng 10 năm 1961, Đại Tá Thiệu thay Đại Tá Nguyễn Đức Thắng nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh; qua năm 1962 chỉ trong vòng một tháng (tháng 12), ông đã nhận những chức vụ chỉ huy khác nhau để cuối cùng có mặt trong cuộc binh biến 1 Tháng 11, 1963 với chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đây là lực lượng quân sự giữ nhiệm vụ quyết định cuộc đảo chánh 1963 – Biên cố khởi đầu vận mệnh Miền Nam.

23- Từ năm 1963 đến nay là 52 năm, thời gian đủ dài, với những tài liệu giải mật từ phía chính quyền Mỹ giúp người hôm nay có những giải thích tiếp cận sự thật về cuộc binh biến mà những nguyên nhân xa có thể kể ra là.. Vào ngày 8-11-1960, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy, ứng cử viên đảng Dân Chủ, đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, đánh bại ứng viên của đảng Cộng Hòa là Richard Nixon. Lần thay đổi tổng thống mới thuộc về một chính đảng đối lập ở Hoa Kỳ là báo hiệu chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng sẽ có những thay đổi lớn.

Thế nên, từ một người được chính quyền Mỹ tích cực ủng hộ điển hình qua lần đón tiếp long trọng năm 1957 tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn với lời ca ngợi nồng nhiệt của Tổng Thống Eisenhower là , Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam là một Churchill của Châu Á. Nhưng qua năm 1960 thì Tổng Thống Diệm đã mau chóng biến thành một đối tượng cần phải loại bỏ nhất là khi ông chống đối mạnh mẽ Hiệp Định Trung Lập Hóa đất Lào ký kết năm 1962 của chính quyền Kennedy. Vì lý do đó, chính quyền Mỹ dần tính đến kế hoạch lật đổ, thanh toán người lãnh đạo Đệ Nhất Cộng Hòa với những tướng lãnh ở Sài Gòn. Kế hoạch đảo chánh được thực hiện trong năm 1963 với biến cố Phật Giáo khởi đầu ở Huế.

24- Cần nhắc lại sự kiện ngày trước về cuộc binh biến Ngày 1 Tháng 11, 1960 do các Trung Tá Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng.. tổ chức với lực lượng nhày dù của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi làm thành phần xung kích. Cuộc đảo chánh bị thất bại bởi khi ông Võ Văn Hải, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống đang lập kế thương thảo với lực lượng đảo chánh thì Đại Tá Trần Thiện Khiêm đã đem quân Sư Đoàn 7 Bộ Binh từ Mỹ Tho, và Đại Tá Huỳnh Văn Cao đưa Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ Biên Hòa về Sài Gòn cứu viện trong sáng ngày 12 tháng 11. Lực lượng đảo chánh bắt đầu nao núng, và vào buổi chiều các tiểu đoàn nhảy dù dần rút lui, quân trung thành Tổng Thống Diệm làm chủ tình thế. Kể từ đó, Đại Tá Khiêm được Tổng Thống Diệm tín cẩn tuyệt đối, thăng cấp thiếu tướng, bổ nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

25- Sau khi nắm chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Thiếu Tướng Khiêm đã đề cử Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng ở Biên Hòa, và Thiếu Tướng Nguyễn Khánh làm Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật đồn trú tại Pleiku. Ba người vốn thân thiết nhau từ trước, cuối tuần trong những năm trước 1960, hai Đại Tá Khiêm và Khánh thường lên Đà Lạt thăm Trung Tá Thiệu, lúc ấy đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

Nhắc lại những chi tiết kể trên để trình rõ hơn mối liên hệ sâu xa giữa ba nhân vật Khánh-Khiêm-Thiệu trong chuổi biến động chính trị- quân sự nơi miền Nam kể từ binh biến 11 tháng 11, 1960; đảo chánh 1 Tháng 11, 1963 đến ngày tàn cuộc 30 Tháng 4, 1975.

26- Khoảng đầu tháng 10, 1963 Thiếu Tướng Khiêm đã chuẩn bị đủ mọi việc cho biến cố dự trù nổ ra trong Ngày 1 tháng 11. Riêng Tướng Nguyễn Khánh và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu thì hoàn toàn đồng ý với kế hoạch của Thiếu Tướng Khiêm do mối thân tình của ba người từ trước như đã trình bày. Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 1/11/63, Thiếu tướng Khiêm với quyền hạn của Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã chủ động thực hiện các diễn tiến như sau:

– Ra lệnh cho Đại Tá Nguyễn Hữu Có (mới nhậm chức từ cuối Tháng 10, thay thế Đại Tá Bùi Đình Đạm) điều động Sư Đoàn 7 Bộ Binh ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ Vùng 4 Chiến Thuật của Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao vốn trung thành với Tổng Thống Diệm.

– Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 BB điều quân về Sài Gòn làm thành phần chủ lực tấn công Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống và Dinh Gia Long.

– Cô lập tất cả tư lệnh quân binh chủng nào xét ra không đồng thuận với cuộc đảo chánh như trường hợp Đại Tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù.

– Ra lệnh cho Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Vùng 2 và Tướng Đỗ Cao Trí vùng 1 Chiến thuật thi hành những biện pháp cần thiết.

- Như thế trong thực tế các Tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn , Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính... có mặt tại Tòa Nhà Chánh Bộ Tổng Tham Mưu chỉ mang tính cách biểu kiến về chính trị hơn là thực quyền chỉ huy quân sự. Vì tất cả mọi lệnh và điều hành đảo chánh đều diễn ra trong phòng làm việc của Tướng Trần Thiện Khiêm (Kể cả việc liên lạc với đích thân Tổng Thống Diệm trong Ngày 2 Tháng 11). Và yếu tố quân sự kết thúc cuộc đảo chính là lần tấn công vào Dinh Gia Long trưa ngày 2 Tháng 11 là do lực lượng Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu thực hiện. Đại Tá Thiệu là người bạn chí cốt của Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm từ đầu thập niên 50.

27-Cuộc đảo chính 1 tháng 11, 1963 hoàn tất với cái chết thảm khốc của anh em Tổng Thống Diệm, quyền lực vào tay các tướng thế hệ lớn tuổi gồm Minh, Đôn, Kim, Nghiêm, Xuân, Đính v.v…Trong khi đó Thiếu tướng Trần Thiện Kiêm, người chỉ huy điều động lực lượng quân sự để dứt điểm cuộc đảo chính dẫu được lên một cấp bực thì vài ngày sau đã được (thật sự là bị) chỉ định nhiệm sở thấp hơn tức là chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 ở Biên Hòa. Và người thay thế ông giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân lại là Thiếu Tướng Thiệu chứ không ai khác. Riêng Tướng Nguyễn Khánh được thăng cấp trung tướng nhưng lại bị đẩy đi xa hơn, ra tận Đà Nẵng giữ nhiệm vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 1.

28- Nhưng Tướng Nguyễn Khánh không chịu bó tay, Ngày 31 Tháng 1, 1964 ông cùng nhóm tướng trẻ, gọi là nhóm “Young Turks" gồm các tướng Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có, và Nguyễn Văn Thiệu.. thực hiện cuộc binh biến im lặng gọi là chỉnh lý nội bộ dẹp bỏ các tướng thế hệ lớn tuổi ra khỏi vị trí quyền lực. Một mình độc diễn với danh xưng Chủ tịch Ban Lãnh Đạo Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, Trung Tướng Khánh được Đại Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng gồm 58 thành viên tướng lãnh bầu giữ chức Chủ Tịch VNCH tức Quốc Trưởng trong ngày 16 tháng 8, 1964 tại cuộc họp ở Vũng Tàu và công bố Hiến Chương Vũng Tàu thay thế Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa.

Với tư thế Chủ Tịch Hội Đồng Quốc gia và Quân Lực, Trung Tướng Nguyễn Khánh tuyển chọn cụ Phan Khắc Sửu, Chủ Tịch Thượng Hội Đồng Quốc Gia giữ chức vị Quốc Trưởng vào ngày 24 tháng 10, 1964. Đổi lại, một tháng sau, qua Ngày 27 Tháng 11, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu lại ký sắc lệnh thăng cấp ông Khánh lên cấp Đại Tướng, và tiếp ân thưởng Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương trong ngày 31 tháng 1, 1965. Đúng một năm sau cuộc chỉnh lý nội bộ 1964.

29- Như trên đã trình bày, suốt năm 1964, từ thượng tầng lãnh đạo đến tình hình quân sự-chính trị, xã hội Miền Nam rối tung, suy sụp gần kề. Lần đầu tiên, phi trường Biên Hòa bị pháo kích trong đêm 1/11/64; lực lượng cộng sản tổ chức trận địa chiến cấp trung đoàn, gây thiệt hại nặng cho quân lực VNCH tại chiến trường Bình Giã, Phước Tuy, tháng 12/64. Đồng thời các cuộc biểu dương lực lượng quân sự-chính trị do Tướng Dương Văn Đức ngày 13/9/64; đảo chính do Tướng Lâm Văn Phát, Đại Tá Phạm Ngọc Thảo 19/2/65.. lần lượt diễn ra, bày thêm cảnh hỗn loạn.

Kết quả, Đại Tướng Nguyễn Khánh buộc phải rời khỏi nước trong ngày 25/2/1965 theo quyết định của nhóm tướng trẻ trong Hội Đồng Quân Đội với chức đại sứ lưu động (thực chất là lưu đày) phải sau 12 năm mới định cư được với gia đình ở Sacramento, California, Hoa Kỳ. Riêng Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, con người khôn ngoan trong tất cả mọi tình huống, nên đã sớm rời khỏi nước vào dịp tháng 10, 1964 với chức vụ đại sứ VNCH tại Mỹ do quyết định từ người bạn thân Nguyễn Khánh.

Một năm sau, Tháng 10, 1965, Tướng Khiêm chuyển nhiệm sở qua làm đại sứ tại Đại Hàn. Cuối cùng, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm chỉ trở về nước vào tháng 5, 1968 khi người bạn thiết, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã giữ chắc ngôi vị Tổng Thống nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

 

III- Chính Trường là Chiến Trường.

31- Năm 1964, Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu được vinh thăng Thiếu Tướng, tiếp Trung Tướng năm 1965. Từ đây ông bắt đầu bước vào chính trường với chức vụ Phó Tổng Thống, chức Tổng Thống hay Quốc Trường được Hội Đồng Quốc Gia và Quân Lực giao cho cho cụ Phan Khắc Sửu từ 24 tháng 10, 1964 khi Tướng Nguyễn Khánh còn tại chức. Trung Tướng Thiệu còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng trong nội các của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Đây là chính phủ dân sự đầu tiên được thành hình sau biến cố 1 tháng 11, năm 1963 do yêu cầu của Tòa Đại Sứ Mỹ cụ thể từ Đại Sứ, Tướng Maxwell Taylor. Bởi Tướng Taylor đã quá chán ngán những thay đổi hỗn loạn suốt trong những năm 1964, 1965 dưới quyền lãnh đạo của Tướng Nguyễn Khánh người mà thoạt đầu ông đã đặt kỳ vọng sẽ ổn định được tình hình. Nhân có vụ đảo chánh ngày 19 Tháng 2, 1965 do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát chỉ huy, Đại Sứ Taylor đồng thuận để các tướng trẻ trục xuất Tướng Khánh ra khỏi Hội Đồng Quân Đội, mất chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực, và buộc lưu vong với chức vụ đại sứ lưu động như trên đã trình bày.

32- Từ ngày thành lập chính phủ dân sự 16 tháng 2, 1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu chẳng mấy khi đồng quan điểm về chính sách quốc gia. Ngày 25 Tháng 5 năm 1965 Thủ Tướng Quát quyết định cải tổ nội các, thay thế một số tổng trưởng nhưng phía giáo dân Thiên Chúa Giáo phản đối. Tình hình bế tắc kéo dài sang tháng 6 vì bất đồng giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát không giải quyết được nên hoạt động chính phủ hoàn toàn bị tê liệt.

Ngày 11 tháng 6, Ông Quát triệu tập hội đồng chính phủ để giải quyết nhưng không đạt được thỏa hiệp nào nên ra lệnh giải tán chính phủ, đồng thời từ chức thủ tướng. Trong tình hình chính trị bế tắc nầy, hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng hiện thực hình thái chiến tranh đã không còn là va chạm cục bộ giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam mà đã là cuộc chiến tranh giữa lực lượng cộng sản và Mỹ mở rộng.

Tháng 5, 1965 lực lượng cộng sản mở chiến dịch Hè-Thu cấp trung đoàn tại chiến trường Đồng Xoài, nơi chỉ cách Sài gòn khoảng 100 cây số đường chim bay. Trong cùng lúc tại Sài Gòn nổ bùng mối hiềm khích trong hàng ngũ giới tướng lãnh trẻ: Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên, Nguyễn Chánh Thi và Nguyễn Hữu Có qua biến cố Miền Trung.

33 – Ngày 11 tháng 6, Thủ Tướng Quát gởi một văn thứ yêu cầu Hội Đồng Quân Đội, hãy nhân danh quân đội mà nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực kỳ khó khăn hiện nay. Từ yêu cầu của văn thư nầy, Hội Đồng Quân Đội họp liên tục trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, đi đến đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Quát. Để thực hiện trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, Hội Đồng quyết định thành lập một tổ chức với danh xưng “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” để lãnh đạo theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, những thành viên thi hành”.

Thành viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia trên căn bản theo chức vụ đương nhiệm trong quân đội là 11 vị, gồm: Chủ Tịch. Tổng Thư Ký. Thủ Tướng. Tổng Trưởng Quốc Phòng. Tổng Tham Mưu Trưởng. Tư Lệnh Hải Quân. Tư Lệnh Không Quân. Các Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, Quân Đoàn III, và Quân Đoàn IV. Sau cuộc tham khảo bầu chọn, kết quả các chức vụ được chỉ định như sau:

- Chủ Tịch: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

- Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

- Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân.

- Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng là Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

34- Cơ cấu Ủy Ban Lãnh Đạo và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương như trên tạm ổn định nhưng có điều làm cho các vị tướng lãnh đạo ở trung ương nói chung và Thiếu Tướng Kỳ nói riêng lo ngại là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Đại Biểu Chánh Phủ tại Trung Phần. Tướng Thi thường có những lời tuyên bố công khai cùng một số hành động mang tính cách trái ngược với trung ương nếu không nói là chống đối lại.

Đầu tháng 3, 1966, Thiếu Tướng Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ và Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên ra Đà Nẳng duyệt lại tình hình Quân Đoàn I. Thật sự chuyến đi là cố giải quyết những bất đồng giữa hai ông Kỳ-Thi nhưng không có kết quả.

Ngày 8 tháng 3, 1966, một buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tại Bộ Tổng Tham Mưu gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. Buổi họp có mục đích giải quyết trực tiếp vụ Trung Tướng Thi đã nhiều lần tỏ ra chống lại lệnh của trung ương. Cuối cùng cũng không đạt kết quả, nên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp quyết định "quản thúc" Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản thúc tại nhà riêng của ông dưới sự canh giữ của An Ninh Quân Đội và Quân Cảnh.

35- Qua ngày 10 Tháng 3 một buổi họp khác của Đại Hội Đồng Quân Lực dưới sự chủ tọa của Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Mở đầu, Trung Tướng Thiệu tuyên bố lý do, tiếp đến Thiếu Tướng Kỳ, rồi Trung Tướng Có, nêu những lời phát biểu cũng như những hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian qua, chẳng khác tình trạng "một sứ quân" hay là "một chánh phủ trong một chánh phủ". Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần bỏ phiếu kín: "Thuận hay không thuận cách chức Trung Tướng Thi?".

Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, đấy là phiếu của Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù không đồng ý bãi chức Tướng Thi, vì trước đây ông ở dưới quyền chỉ huy của ông Thi. Cuối cùng, dẫu có một phiếu trắng của Tướng Đống, lệnh cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Quân Khu I và Đại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp trở thành quyết định chung cuộc của Đại Hội Đồng Quân Lực.

36- Sự kiện cách chức Tướng Thi làm nổ bùng làng sóng phản đối tại Đà Nẵng với thành phần dân chúng Phật Giáo đòi chánh phủ phục chức cho Tướng Thi. Và cuộc "khủng hoảng miền Trung" dần trở nên nghiêm trọng khi các tướng Phan Xuân Nhuận, Nguyễn Văn Chuân được trung ương cử ra Huế và Đà Nẵng để ổn định nội vụ lại trở thành một phe với thành phần chống đối có sự tham dự của những đơn vị quân đội tại địa phương.

Tiếp đến, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thư Ký Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia bay ra Huế, cũng với hy vọng trong một chừng mực nào đó sẽ dẹp yên chống đối, rốt cuộc cũng bị phe chống đối bắt giữ. Cuối cùng Trung Tướng Có quyết định, chính ông phải ra Đà Nẳng để biết rõ tình hình, Tướng Thiệu và Tướng Viên cùng khuyên Tướng Có không nên mạo hiểm, dấn thân vào thế bị động tương tự của Thiếu Tướng Chuân, nhưng Trung Tướng Có vẫn giữ nguyên quyết định, và ông đi Đà Nẵng. Đến căn cứ Không Quân Đà Nẵng, Trung Tướng Có cũng bị quản thúc tương tự như Thiếu Tướng Chuân. Thế là trung ương tiếp tục lún sâu vào thế bị động.

37- Ngày 14 tháng 4, Sài gòn có ý định chuyển quân ra Đà Nẵng để giải quyết tình hình theo ý kiến của Thiếu Tướng Kỳ là sẽ sử dụng biện pháp mạnh. Trung Tướng Thiệu không phản đối nhưng cũng không hẳn đồng ý, Trung Tướng Viên vẫn như từ ngày đầu đến giờ là không tham gia quyết định nào cả vì ông cho rằng đây là vấn đề chính trị, vấn đề của chánh phủ mà ông chỉ là người thi hành lệnh.

Đến đây lại thêm có sự tham dự của Trung Tướng Tôn Thất Đính. Ông Đính là một trong năm tướng bị nhóm lãnh đạo “Chỉnh lý ngày 30/1/1964” quản thúc mất chức quyền, không quân lính từ 1964. Nay ông Đính bắn tiếng: Nếu được tín nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông có khả năng giải quyết được tình hình một cách êm dịu”. Nhưng sau khi nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I tại Đà Nẵng thì ông lại tuyên bố đứng về phía lực lượng chống đối trung ương. Không khí đấu tranh trong hàng ngũ chống đối chánh phủ tại Sài gòn càng thêm hăng hái khi thêm một viên tướng mà trung ương phái ra là Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao lại bỏ nhiệm ngay khi đến Đà Nẵng bằng cách xin tỵ nạn trong căn cứ Mỹ.

37- Tại Sài gòn, từ sau ngày Thiếu Tướng Cao bỏ Quân Đoàn I, các tướng lãnh đạo quốc gia và quân đội, gần như làm việc bất kể ngày đêm tại phòng làm việc của Trung Tướng Viên. Cuối cùng tất cả đồng đi đến một kết luận qua quan điểm của Trung Tướng Viên nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng là không thể chấp nhận một quân đội trong một quân đội như tình trạng hiện nay. Và ông đề nghị phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết dứt khoát tình hình.

Ngày 15/5/1966 là ngày chuyển quân ra Đà Nẵng. Lần chuyển quân này được phía Hoa Kỳ trực tiếp cung cấp vận tải cơ hạng nặng C130 và vận tải hạm chở chiến xa từ Sài Gòn ra phi cảng và hải cảng Đà Nẵng. Với lực lượng Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù làm thành phần xung kích cộng thêm Thiết Giáp yêm trợ. Và rồi diễn tiến cuộc “hành quân” giải tỏa tình hình hỗn loạn tại Đà Nẵng được thực hiện rất thuận lợi, không một cuộc nổ súng nào xảy ra giữa lực lượng chánh phủ với lực lượng chống đối, ngoại trừ tại một ngôi chùa nhỏ có vài phát súng bắn ra nhưng không gây thiệt hại nào.

38- Đầu tháng 7 năm 1966, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt họp trong hai ngày 8 và 9 để quyết định biện pháp trừng phạt đối với những tướng lãnh liên hệ. Riêng ông Thi được đưa ra khỏi nước sang cư trú tại Lancaster, Pennsylvania, Hoa Kỳ, trong ngày 31 tháng 7, 1966. Hóa ra, hầu như tập thể tướng lãnh Miền Nam cụ thể với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong suốt thời gian từ sau binh biến 1 tháng 1, 1963 đều dồn nỗ lực trong trận chiến chính trị.. Để đến cuối cùng sau khi đã sàn lọc hết những đối thủ từ thế hệ tướng lãnh lớn tuổi Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân.. nhóm tướng lãnh trung gian Nguyễn Khánh, Trần Thiện Kiêm, Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát.. và sau rốt với Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Hữu Có đều được đưa ra khỏi nước. Hai ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ cuối cuộc đối mặt nhau trong chức vụ chánh và phó tổng thống nền Đệ Nhị Cộng Hòa khai sinh trong bão lửa của quê hương.

 

IV- Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu/Tổng Thống Nixon/VNCH đi về đâu?

41- Năm 1968, Hội Nghị Paris dự trù khai mạc vào Ngày 6 Tháng 11, sau ngày bầu cử tổng thống Mỹ một ngày (5 Tháng 11). Lá bài chủ của hai đảng để quyết định cho chiếc ghế của người sẽ ngồi vào Tòa Bạch Ốc là sáng kiến và kế hoạch Chấm dứt cuộc chiến Việt Nam”.

Để yểm trợ cho ứng viên của Đảng Dân Chủ, Hubert Humphrey phó tổng thống đương nhiệm, Tổng Thống Johnson tung ra đòn quyết định Ngưng oanh tạc Bắc Việtvào ngày 1 Tháng 11, và chỉ thị Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bunker hối thúc phía Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại Paris đúng như thời biểu ấn định, tối thiểu cũng đưa ra một thông cáo chung về việc Hoa kỳ ngưng oanh tạc và hòa đàm, nếu như còn những dị biệt giữa hai chính phủ.

42- Nhưng tại Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu lại đi nước cờ khác. Trong cuộc họp của lưỡng viện quốc hội nhân ngày “Quốc Khánh 1 Tháng 11”, có sự hiện diện trang trọng chính thức của Đại Sứ Bunker, ông Thiệu đã tuyên bố trong một bài diễn văn quyết định: “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”. Bài diễn văn, lời tuyên bố được cả quốc hội đứng dậy đồng loạt vỗ tay thật lâu. Nhưng phía Mỹ thì “Đại Sứ Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không được. Ông toát cả mồ hôi..”; hoặc nhận định của Tổng Thống Johnson sau nầy viết lại trong hồi ký “The Vantage Point” là: “Ngày 1 tháng 11, sau khi cho hay sẽ tham dự Hòa Đàm Paris, [các] nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử.”

42- Sở dĩ ông Thiệu đã đi một nước cờ phiêu lưu, mạnh mẽ như kia dẫu đã tính đến chuyện có thể bị ám sát hay lật đổ, nếu như chính quyền Mỹ biết rằng ông sẽ tuyên bố lời chối từ không tham dự hội nghị vào thời điểm quyết định trước, sau Ngày 1 Tháng 11 (Ngày 30 Tháng 10 của Hoa Thịnh Đốn). Bởi vì ông đã nhận được thông điệp: “Chớ tham gia Hòa Đàm Paris, cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên làm tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn”. Hiện thực hơn cho mưu định nầy, Đại Sứ Bùi Diễm qua sự giới thiệu của bà Anna Chennault (phu nhân củaTướng Chennault, Tư Lệnh Phi Đoàn Phi Hổ trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Trung Hoa) đã gặp mặt Nixon và nghe lời hứa hẹn: Sẽ coi vấn đề Việt Nam là ưu tiên số Một, và bảo đảm sẽ dành cho Việt Nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân Chủ.”

43- Nhưng vấn đề Việt Nam, sự sống còn của Miền Nam không phải chỉ là dàn xếp chính trị như trên mà được được sắp xếp theo những con số cụ thể như sau:

- Giai đoạn 1966-1970: Mỹ tiêu 25 tỷ Đô-la/năm, bởi có 500,000 quân Mỹ và Đồng minh đang tham chiến

- Hai năm 1970-1971: 12 tỷ Đô-la/năm, vì đang rút quân.

Sau khi Mỹ rút hết quân bộ chiến và các đơn vị không, hải, quân yểm trợ:

- Tài khóa năm 1973: 2.1 tỷ

- Tài khóa năm 1974: 1.4 tỷ

- Tài khóa năm 1975: 700 triệu.

Con số 700 triệu (dự trù) kia vào ngày 13 Tháng 3/1975 trở nên thành “Con Số Không” khi Ban Lãnh Đạo Đảng Dân Chủ cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện bỏ phiếu với đại đa số: Chống bất cứ viện trợ nào cho Việt Nam kèm theo những lời tàn nhẫn: Viện trợ di tản thì cho, chứ một xu (viện trợ quân sự) cho Thiệu thì không.”

44- Người lính VNCH ở chiến trường không biết những số liệu trên, họ chỉ biết: Trước “Hiệp Định Ngưng Bắn Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam” trên chiến trường, trước khi xung phong vào mục tiêu họ được phi pháo yểm trợ với số lượng không hạn chế nếu như đụng địch. Nay năm 1974, 1975, một mục tiêu chỉ còn “Bốn (4) viên đạn 105 ly cho một lần đụng trận”. Họ cũng không biết trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh tấn công vào Sài Gòn trong cuối tháng 4 (khởi từ 10 Tháng Ba với trận tấn công Ban Mê Thuột) có đến: “Toàn thể quân đội Miền Bắc đang có mặt ở Miền Nam trong giờ phút nầy.. Chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là có thể chiếm hết Miền Bắc” Người tuyên bố câu tán thán nầy có thêm kết luận cay đắng: “..Hiệp Định Hoà Bình Paris đã bị vi phạm tàn tệ..!!” Người nói câu tán thán, người đạo diễn, thi hành hiệp định trước sau cũng là một: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia kiêm Ngoại Trưởng Henry Kissinger.

45- Cần phải nhắc lại sau lần đắc cử nhiệm kỳ hai, dẫu chưa tuyên thệ nhậm chức, Tổng Thống Nixon gởi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bức thư ngày 14/1/1973 (một của nhiều bức thư có nội dung tương tự): “.. Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp Định vào ngày 23 tháng 1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc nầy dù phải làm một mình, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ của Ngài làm cản trở cho công cuộc vãng hồi hòa bình tại Việt Nam.. “Kết quả không tránh khỏi là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có “sự thay đổi về nhân sự” trong chánh phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được.”

Và thuật ngữ “Thay đổi thành phần nhân sự” có nghĩa: Phế bỏ đi.. Như đã một lần đối với Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Lý Thừa Vãn, Salvador Allende..

46- Khi giao thiệp giữa hai nguyên thủ của hai nước đã đến mức nói những lời như trên; mối tương quan liên hệ giữa hai quốc gia bị so kè từng đồng bạc một. Việc so sánh 300 triệu quân viện bổ sung của tháng 3, tháng 4/1975 đối với tồn tại của một quốc gia từng gọi là đồng minh với giá máu 58,000 mạng sống binh sĩ Mỹ trong 15 năm chiến trận mang hình thức một lời nguyền rủa tàn tệ mà lịch sử hôm nay phải nhìn lại với mối trách cứ ngậm ngùi. Tóm lại, “Không Ai Thắng Ai” trong cuộc chiến nầy. Một cuộc chiến tranh không mục tiêu chiếm cứ và không tính danh xác định.

Nước Mỹ chưa hề tuyên chiến với nhà nước gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và tất cả cả kế hoạch quân sự không hề đặt nên ý niệm xử dụng bộ binh Mỹ vượt quá biên giới của Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm: Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến “không có hai phe lâm chiến” như tất cả chiến tranh cổ kim hằng định nghĩa. [Đây là luật kẻ mạnh. Muốn đánh thì đánh, muốn hòa thì hòa. Nó là một cuộc chiến tiền đồn. Việt Nam: Một cây kim gút trên bản đồ thế giới]

47- Phần cuối của cuộc tưởng niệm chúng tôi xin đặt vấn đề chung kết. Kể từ ngày 8 tháng 8, 1974, khi Tổng Thống Richard Nixon từ chức do vụ án chính trị Watergate. Tổng Thống Ford vốn là một dân biểu hạ viện được kế vị do hiến định, nên khoán trắng vấn đề đối ngoại, an ninh quốc gia cho Cố Vấn kiêm Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger.

Số phận Việt Nam được quyết định bởi chính cá nhân người đã xây dựng nên Hiệp Định ngày 27 tháng 1, 1973 mà hậu quả là viện trợ kinh tế bị cắt khoảng 50% (theo đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Kennedy), và viện trợ quân viện được xác nhận ở số 625 triệu, có thể chỉ là 500 triệu (tức cắt đến 60%). Như thế, nếu không có biến cố tháng 30 tháng Tư, 1975 thì cũng chỉ đến khoảng tháng 6/1975 đạn tồn kho sẽ hết, và đến tháng 8 là hết sạch.

48- Tổng Thống Ford cố làm yên lòng Tổng Thống Thiệu bằng cách cử phái đoàn Thứ Trưởng Quốc Phòng Clements sang Sài Gòn; ông Thiệu chỉ định Đại Sứ Trần Kim Phuợng, Tổng Trưởng Vương Văn Bắc sang gặp Tổng Thống Ford. Tổng Thống Mỹ hứa cứu xét đến quân viện bổ sung 300 triệu để phục hồi lại con số một tỷ như hoạch định.

Tháng 12, 1974 tỉnh Lỵ Phước Long bị mất, chính phủ Hoa Kỳ qua bản thân Tổng Thống Ford, Ngoại Trưởng Kissinger không có hành động đáp ứng cụ thể nào như đã hứa hẹn, cam kết. Một phái đoàn quốc Hội Mỹ (gồm toàn những nhân sự chống đối với chính quyền, thành phần lãnh đạo VNCH) đến Sài Gòn tìm hiểu tại chỗ để đi đến quyết định có viện trợ (quân sự) nữa hay không(!?) Ngày 10 tháng 3, đại quân miền Bắc tấn công Ban Mê Thuột; Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Washington trở về với tin sét đánh: “Không những không có 300 triệu quân viện bổ sung mà có thể không còn viện trợ quân sự nữa.”

49- Ngày 13 Tháng Ba, ban lãnh đạo Đảng Dân Chủ (chiếm đa số trong hai viện quốc hội Mỹ) đồng bỏ phiếu: “Chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Việt Nam.” Ngày 14/3 cuộc họp tại Cam Ranh gồm đủ tất cả viên chức lãnh đạo VNCH dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Thiệu quyết định: Bỏ Cao Nguyên (17 Tháng Ba) để tái phối trí lực lượng. Tiếp theo là hậu quả giây chuyền:

- 24 tháng 3 mất Huế-Quảng Trị;

30 tháng 3 mất Đà Nẵng;

- 31 tháng 3 mất NhaTrang.

- Và cuối cùng là Sài Gòn với ngày 30 tháng Tư, 1975.

Cuối cùng chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Nixon không thể làm gì được đối với bi kịch Việt Nam. Không ai có thể làm gì khác hơn!

 

Kết Luận.

Lịch sử không là ngôi nhà mồ lấp kín mà là Linh Đài để toàn dân nhìn vào thấy rõ diễn trình chiến đấu vinh quang lẫn nỗi đau thương bất hạnh của quốc gia dân tộc. Nay, 70 năm sau thời điểm 1945; 60 năm kể từ khi Việt Nam Cộng thành hình, 1955; 40 năm sau lần Miền Nam sụp đỗ, 1975.. Với tấc lòng sắc son cùng vận nước, nhiều thế hệ người Việt buộc phải thấy ra điều cảm khích cao thượng: Những danh tính lãnh đạo như Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần Trọng Kim, Quốc Trưởng Bảo Đại, các Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương.. dẫu không hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo, có nhiều thiếu sót (tất nhiên) trong công cuộc điều hành, chỉ huy đất nước.. Nhưng rõ ràng Dân Vi Quý của Đế Quốc Việt Nam; Cộng Đồng Đồng Tiến của Đệ Nhất Cộng Hòa; Người Cày Có Ruộng của Đệ Nhị Cộng Hòa là những khẩu hiệu có nội dung đích thực biểu hiện ước nguyện Bảo Quốc-An Dân của những thế hệ lãnh đạo với Tinh Thần Quốc Gia Dân Tộc. Quá trình nầy được thực hiện, bảo vệ bởi vô vàn máu xương của Người Lính Quốc Gia, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà dẫu với thất trận uất hờn ngày 30 tháng 4, 1975 vẫn ngời sáng trong lòng Người Dân, trước Lịch Sử.

Không ai có khả năng chọn lựa giờ sinh hoặc lần chết. Nhưng Con Người toàn quyền Tự Do chọn lựa chế độ chính trị để sống cùng – Người Việt Nam trước 1954, người Việt Miền Nam sau 1975, và hiện tại những công dân của chế độ gọi là “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vẫn đang tiếp tục quyết định chọn lựa đầu tiên và cuối cùng – Chọn lựa giữa Cộng Hòa và Cộng Sản. Máu, xưong, sinh mệnh của nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như triệu triệu con người trên thế giới đã minh chứng suốt thế kỷ 20 cũng như hiện nay:

Con người phải được Sống Tự Do. Và Tự Do là Yếu Tính của chế độ Cộng Hòa không phải của chế độ Cộng Sản.

Nhân buổi tưởng niệm ngày mất - Tổng Thống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu – Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cần nêu rõ mục đích và yêu cầu tối thượng này.

Thiếu Úy Phan Nhật Nam

Số Quân 62A/203-191

Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, KBC 4919

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn