01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6184)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16763)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5129)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4673)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4771)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

THE PENTAGON PAPERS Lịch sử những quyết định của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam - Kỳ 13

15 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 25638)
NỘI DUNG: Trong tháng giêng năm 1961, có 5 vấn đề lớn ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Việt Nam, bao gồm các vấn đề dưới đây:

 

1.-Cuộc nổi dậy của Việt Cộng

Trong nhiều năm trước thời điểm của năm 1960, những giai đoạn lịch sử của Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương gọi tắt là CINPAC Command không hề đề cập đến cuộc nổi dậy của Việt Cộng. Vào năm 1960, việc phát triển một kế hoạch chống nổi dậy cho Việt Nam (và đồng thời cho Lào) đã nhận được sự chú ý rất khiêm tốn. Nhưng vào Tháng Tư năm ấy, phái bộ MAAG ở Saigon đòi phải có thêm những phương tiện vận chuyển và máy bay trực thăng dùng cho những nỗ lực chống cuộc nổi dậy của Việt Cộng thì riêng lời yêu cầu cung cấp trực thăng bị CINPAC từ chối. Đến Tháng 12, Văn Phòng Bộ Trưởng Quốc Phòng (OSD) muốn chuẩn thuận việc gởi 11 trong số 16 trực thăng mới yêu cầu sang Việt Nam trên căn bản “khẩn cấp”. Nhưng tình trạng khẩn cấp ở đây phải hiểu như một hành động tái bảo đảm với chính phủ Ngô Đình Diệm sau cú đảo chánh 11 tháng 11, và mức độ của tình trạng này được đo bằng nhịp độ giao hàng: tháng 12 sẽ chuyển giao 4 trực thăng và số còn lại được giao trong vòng 3 tháng tới.

Một cách tổng quát, hồ sơ cho thấy mức độ quan tâm được biểu lộ qua quyết định chuyển giao trực thăng được tiến hành rất từ tốn trong suốt năm 1960 qua năm 1961, nhưng nó vẫn còn là vấn đề kém ưu tiên mà những viên chức điều khiển chính sách thường hay nhìn. Và chúng ta sẽ thấy chính quyền mới của Tổng Thống Kennedy chú ý đến vấn đề này hơn trong khi chính quyền của Tổng Thống Eisenhower vẫn giữ nó ở trong văn phòng. Nhưng có điều quan trọng là chính phủ Miền Nam Việt Nam lúc đó rõ ràng đã giữ kín ý nghĩ về mối đe dọa của Việt Cộng được thể hiện ngay từ đầu năm 1961.

 

2.-Những trở ngại vì chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Mặc dù những thắng lợi của Việt Cộng không được nhận rõ một cách đủ nghiêm túc rằng nó có thể đe dọa ngay lập tức sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm trong những phúc trình từ Saigon. Nhưng ngược lại trên thực tế những thắng lợi này đã tạo thành những khó khăn trong liên lạc giữa Hoa Kỳ và chính phủ của ông Diệm mà những viên chức Hoa Kỳ chưa bao giờ phải đối phó trước đó. Mãi cho đến cuối năm 1960, điều này mới trở thành một cách nhìn tương đối rộng rãi rằng không sớm thì muộn chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm có thể bị lật đổ do không có sự thay đổi quan trọng nào về chính trị nội bộ. Ngược lại, cho đến Tháng Năm năm 1959, cơ quan đánh giá tin tức tình báo quốc gia NIE, trong một phúc trình mật, cho biết “ông Diệm hầu như chắc chắn còn ngồi lại ghế tổng thống trong nhiều năm nữa và chúng tôi (Mỹ) được biết bản phúc trình Tháng 8 năm 1960 của NIE tiên đoán rằng xu hướng “trái ngược” này nếu tiếp tục “chắc chắn sẽ là nguyên động lực chính dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm”.

Một cách sơ lược, thực tế bất hạnh chính là dù cho ông Điệm đạt được những thắng lợi vào năm 1955 và 1956 (truất phế được Vua Bảo Đại và dẹp được giáo phái ở Miền Nam-ND), cho đến cuối thập niên 1950s những cảm tình tốt đẹp nhất mà người ta có thể dành cho Tổng Thống Diệm vẫn chỉ là việc ông đã giữ được sự toàn vẹn quốc gia và chống đỡ không để Cộng Sản xâm chiếm. Nhưng khi ngay cả những cảm tình này cũng bị đẩy vào sự hoài nghi và trong những câu chuyện giữa những người Việt Nam cũng như ngay cả giữa những người Mỹ thì việc phải tìm người lãnh đạo thay thế ông Diệm là điều không thể tránh được. Ý nghĩ này còn xuất hiện ở ngay trong những lời lẽ của những người lạc quan nhất. Chúng tôi (viên chức tình báo Mỹ) đã biết được rằng chính ông Kenneth Young, Đại sứ Mỹ ở Thái Lan và đồng thời là người tin tưởng một cách mạnh mẽ vào chế độ Diệm cũng đã phải lên tiếng cảnh cáo hồi Tháng Mười năm 1960 rằng “dường như đang có khủng hoảng niềm tin ở Việt Nam”.

Nhưng một danh sách dài gồm những biện pháp mà Đại Sứ Young đưa ra hoàn toàn chỉ co tính chất kỹ thuật và không đòi hỏi sự thay đổi chính trị rộng rãi trong chế độ Ngô Đình Diệm, trong khi vị đại sứ của chúng ta (Mỹ) tại Saigon là Eldridge Durbow thì tỏ ra bi quan hơn:

“...Tình hình tại Việt Nam [ tháng 12 năm 1960] thật nguy hiểm cho quyền lợi ủa Hoa Kỳ. Cộng Sản đang can dự một cách trực tiếp và rộng rãi vào những nỗ lực của du kích Việt Cộng để chiếm vùng nông thôn và đẩy mạnh việc lật đổ chính phủ của Tổng Thống Diệm. Các hoạt động của họ gia tăng một cách chắc chắn trong suốt năm nay (1960). Thêm vào đó, Tổng Thống Diệm phải đương đầu ngày một cách rộng rãi hơn với sự bất mãn của dân chúng đối với chính phủ của ông về khả năng ngăn chặn làn sóng đỏ và khả năng của chính lực lượng an ninh trong các cuộc hành quân chống Việt Cộng. Một điều rất rõ ràng là nếu ông ta (Tổng Thống Diệm) muốn duy trì quyền lực thì phải đáp ứng được ít nhất là hai thử thách bằng cách cải thiện những phương thức điều hành cuộc chiến chống Cộng và phải hành động tích cực hơn, mạnh mẽ hơn để xây dựng được sự ủng hộ của quần chúng đối với chính phủ. Nếu ông ta (Tổng Thống Diệm) không chịu hành động như vậy, chúng ta (Mỹ) chắc chắn bị buộc phải nhận lãnh một việc làm khó khăn là phải tìm cho ra và ủng hộ người lãnh đạo khác ở Miền Nam Việt Nam...”

[CHÚ THÍCH CỦA ND: Cho đến nay, một vài nhà nghiên cứu dường như đã quên hẳn đoạn trích dẫn từ một phúc trình rất quan trọng của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa vào thập niên 60 là Eldridge Durbow vừa được đề cập ở phần trên. Durbow là một trong những đại sứ nổi tiếng là người hay nói thật và vì thế chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng như một vài viên chức Mỹ tại Bộ Ngoại Giao cũng như Tòa Bạch Ốc cũng không ưa nhà ngoại giao này. Đã có lần, ngay tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xuất hiện một âm mưu “bứng” ông đi, nhưng không thành. Tuy nhiên, Eldrige Durbow cũng chỉ ngồi ở ghế đại sứ được 4 năm, một thời gian tương đối lâu là do dưới thời John F. Kennedy, các phụ tá tại Tòa Bạch Ốc đã nhận ra được tính chất trung thực của những khuyến cáo qua những điện tín ngoại giao mà ông gởi về Bộ trong suốt những năm 1960-1961, trong đó ông tố cáo chính quyền của Tổng Thống Diệm đã cố gắng che giấu sự đe dọa nguy hiểm của Cộng Sản đối với Miền Nam Việt Nam và việc ông Diệm nhất quyết không chịu cải tổ chính trị mà ngược lại còn củng cố vị thế chính trị cho gia đình ông, điều mà cho tới nay những người còn ủng hộ ông vẫn phủ nhận. Qua “The Pentagon Papers”, người đọc có thể được xác nhận những điều mà họ có thể đã biết từ khi còn ở tuổi thanh niên vào thập niên 60 nhưng vào lúc đó không thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của tài liệu này là nó để lộ ra một điểm căn bản của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: những nhà ngoại giao Hoa Kỳ rất lưu ý đến những hồ sơ nhân quyền hay chính trị của chế độ tại quốc gia mà họ ủng hộ, nhưng rồi vì gặp phản ứng của chính quyền ở nước sở tại, nên họ không thể làm gì khác hơn là tạm thỏa hiệp cho qua chuyện. Đến một lúc không thể nào chịu đựng được nữa thì can dự vào những kế hoạch bí mật để nhổ đi những cái gai. Khuynh hướng này của Hoa Kỳ dường như mới được chấm dứt vào thập niên 90. Gần đây những tiết lộ của mạng WikiLeak người ta thấy rằng Hoa Kỳ tìm cách xen vào nội tình của hầu hết các quốc gia có giao thiệp cũng như không hoặc ít giao thiệp với Hoa Kỳ vì ngày nay chính sách đối ngoại cũng chính là chính sách an ninh cho Hoa Kỳ. Đối với người Mỹ thì họ thấy rằng chính sách đối ngoại là phục vụ quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng người Việt Nam chúng ta ở Mỹ vì mang quốc tịch Mỹ lại không thể cho rằng chính sách này phục vụ cho quyền lợi của chính mình vì trong quá khứ không thiếu những người là nạn của chính sách đối ngoại mang đầy tính chất của những người đi tìm thuộc địa hay thị trường mới trên thế giới. Chỉ có một điểm là chính sách đối ngoại hiện nay của Hoa Kỳ thường đề cập thẳng đến những hồ sơ nhân quyền tại quốc gia mà Hoa Kỳ trợ giúp hay làm ăn buôn bán. Nhưng thực tế không thấy Hoa Kỳ hành động thực sự để những lời yêu cầu của các nhà ngoại giao Mỹ được thực thi. Thỉnh thoảng mới thấy Hoa Kỳ tạo áp lực về hồ sơ nhân quyền sau hậu trường. Điển hình nhất là gần đây, Hoa Kỳ nhiều lần nêu ra những hồ sơ xấu về nhân quyền, nhưng mặt khác họ gần như tảng lờ những vụ bắt bớ đàn áp của Hà Nội đối với những người bất đồng chính kiến chỉ vì Hoa Kỳ đang tìm những phương thức thích hợp để biến Việt Nam trở thành đồng minh của Hoa Kỳ và giúp Hoa Kỳ ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc. Cũng vì thế mà chúng ta hiểu tại sao cho tới nay các nước cần Hoa Kỳ trợ giúp về mặt an ninh và kinh tế vẫn còn nhìn Hoa Kỳ với con mắt đầy hoài nghi]

(Còn tiếp)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn