01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5298)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 15966)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4664)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4277)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4398)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

THE PENTAGON PAPERS Lịch sử những quyết định của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam - Kỳ 14

17 Tháng Mười Một 201212:00 SA(Xem: 28518)
3.-Khó khăn với Liên Bang Xô Viết

Nhưng theo các viên chức ở Hoa Thịnh Đốn, cả hai vấn đề khó khăn trong nội bộ Việt Nam là phải thương lượng với Việt Cộng và thương lượng với chế độ Diêm như thế nào dường như chỉ là những khó khăn nhỏ nếu chúng ta (Mỹ) phải so sánh với việc chúng ta phải thương lượng để giải quyết các vấn đề quốc tế với Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết. Có hai yếu tố chính khiến cho chúng ta (Mỹ) gặp nhiều phiền toái với Liên Bang Xô Viết. Yếu tố đầu tiên chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến Việt Nam, đó là tư thế rất hung hãn và tin tưởng của người Nga vào thời đó và vị trí phòng thủ của người Mỹ bị sói mòn. Sử dụng kỹ thuật của W.W. Rostow, người Nga lúc đó đã bước vào năm thứ ba của thời kỳ tấn công “hậu-Spunik” và thái độ hung hăng của họ tiếp tục cho tới vụ khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba . Về phía Hoa Kỳ có một tình trạng mất tinh thần ngay cả trong hàng ngũ những người Cộng Hòa (chẳng hạn như Thống Đốc Rockefeller mặc dù đã bị Nixon kiềm chế nhưng báo chí vẫn tường thuật được những tuyên bố của ông ta trong chỗ riêng tư) về điều gọi là sự “sói mòn vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới”. Ủy Ban Coolidge do Tổng Thống chỉ định đã khuyến cáo người cầm đầu hành pháp Hoa Kỳ vào Tháng Giêng năm 1960 rằng trong số những biện pháp cần thiết cần phải làm ngay phải lấp “khoảng trống trống về hỏa tiễn” và “cũng cố quốc phòng”. Kennedy dĩ nhiên là dùng sự soi mòn vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới làm đề tài tranh cử. Tất cả những nguyên do này đã tạo cho năm 1961 thành một năm mà trong đó Hoa Kỳ khó lòng mà chấp nhận bất cứ một nhượng bộ nào hoặc nhường nhịn Xô Viết bất cứ điều gì dù có thể tránh được hoặc ngay cả có thể bỏ qua được. Điều này phản ảnh rõ rệt nhất là vào Tháng Giêng năm 1961 là tháng mà bất cứ lời tuyên bố hay nhận định nào cũng có thể diễn dịch ra là sự đáp ứng thậm chí trả đũa yếu ớt của Hoa Kỳ và tình trang này tạo ảnh hưởng đối với việc Mỹ áp lực mạnh mẽ lên vấn đề Việt Nam.

Ngoài ra còn một yếu tố khác trong những khó khăn do Cộng Hòa Liên Bang Xô Việt gây ra ảnh hưởng trực tiếp đền vấn để Việt Nam. Chính phủ mới tại Hoa Kỳ (chính phủ Kennedy) ngay cả trước khi nhậm chức đã ngả theo khuynh hướng tin rằng một cuộc chiến tranh qui ước là một sự kiện quan trọng đặc biệt trong thập niên 1960s. Tháng Giêng năm 1961, Kruschev đã ủng hộ quan điểm đó trong bài diễn văn cam kết rằng Liên Xô sẽ hậu thuẫn cho “những cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia” trong khi Việt Nam là một nơi đang diễn ra kiểu chiến tranh “giải phóng” . Vì thế kể từ khi cuộc chiến tranh ở Lào được chuyển ra ngoài giai đoạn bạo động, Việt Nam trở thành nơi duy nhất mà chính quyền Hoa Kỳ phải đối phó những nỗ lực phát triển mạnh mẽ của lực lượng Cộng Sản để lật đổ những chính quyền thân Tây phương bằng quân bạo động thân Cộng được sự trợ giúp từ bên ngoài. Đây là một thử thách mà Hoa Kỳ khó bỏ qua được.

 

4.-Tình hình tại Lào

Trong khi đó, nội bộ các quốc gia Đông Nam Á tự nó đã có những rắc rối phát sinh từ vấn đề Lào, nơi mà vị trí của Hoa Kỳ đang trong tiến trình tan vỡ khi Tổng Thống John F. Kennedy tuyên thệ nhậm chức. Chính quyền Eisenhower vốn là chính quyền ủng hộ một cách tích cực những chính phủ thân Mỹ tại Lào. Hậu quả là những phần tử trung lập đã bỏ Hoa Kỳ và nhảy sang những tổ chức thân Cộng. Moscow không che giấu việc viện trợ cho những chính phủ mà họ coi là hợp pháp tại Lào hoặc là những chính phủ đồng minh với Cộng Sản.Trong khi Mỹ thì nhìn nhận và trợ giúp các thành phần hay những chính phủ thân Tây Phương. Tuy nhiên, điều trái ngược diễn ra, đó là những lực lượng trung lập hay Cộng Sản lại mạnh hơn là lực lượng được Mỹ ủng hộ. Rõ ràng suy nghĩ của Hoa Thịnh Đốn chỉ còn là phải đưa lực lượng Mỹ vào Lào thì mới có thể giúp phe thân Tây phương trong chính phủ Liên Hiệp ở Lào duy trì được quyền lực. Thế nhưng thực tế cho thấy rằng trong tình hình vào lúc đó ở Lào, nảy sinh ra sự hoài nghi về việc phe trung lập lãnh đạo chính phủ liên hiệp có thể được cứu vãn. [Phe trung lập ở Lào vào thời điểm này rất yếu cả về lực lượng quân sự lẫn chính trị-ND]. Vì thế giải pháp trung lập nảy sinh thêm những khó khăn chung cho những quốc gia ở Đông Nam Á vì những lý do sau đây:

-Sẽ nảy sinh sự nghi ngờ vào những lời cam kết của Mỹ đối với phần còn lại của thế giới (những nước ủng hộ và đồng minh của Mỹ)

-Giải pháp trung lập sẽ tạo thêm những khó khăn mới về an ninh cho Thái Lan và Việt Nam (VNCH)

-Những trở ngại vừa kể sẽ được kèm theo với ảnh hưởng “tốt” của chính phủ trung lập tại Lào (như một chính phủ chấm dứt được nội chiến-ND)

-Và nếu như phe Cộng sản Pathet Lao muốn lật đổ chính phủ liên hiệp mà không có sự can thiệp tích cực ủa Mỹ như trước thì rõ ràng là tình hình ở Lào đã tạo cơ hội hết sức thuận lợi cho Pathet Lào để làm điều đó. Nếu trường hợp này xảy ra, tình hình Đông Nam Á diễn tiến theo chiều hướng ngày càng tệ hại.

Hậu quả mà chúng ta (Mỹ) có thể nhìn thấy là ảnh hưởng của vấn đề Lào đã lan tràn vào [những quyết định của Mỹ-ND] trong vấn đề Việt Nam.

 

4.- Cam kết đặc biệt của Mỹ đối với Việt Nam Cộng Hòa

Cuối cùng, trong những yếu tố vừa được duyệt xét ở trên có ảnh hưởng đến việc thiết lập chính sách về Việt Nam , chúng ta (Mỹ) phải lưu ý rằng Miền Nam Việt Nam (không giống như phần lớn các quốc gia khác ở Đông Nam Á) là một thành tố cần thiết của Hoa Kỳ và do chính Hoa Thịnh Đốn khai sinh. Nếu không có sự giúp đỡ của Mỹ đối với chính phủ Ngô Đình Diệm thì chắc chắn chính phủ này sẽ không thể củng cố được Miền Nam Việt Nam trong thời gian từ 1955 đến năm 1956 (là thời gian chênh vênh và khó khăn nhất cho ông Diệm khi quân đội Pháp rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam-ND).

Và như thế nếu không có sự can thiệp của Mỹ, chính phủ Nam Việt Nam không thể từ chối việc thảo luận tổng tuyển cử vào năm 1956 theo qui định của bản Hiệp Định Geneve mà không bị quân đội Việt Minh (CSBV) tràn ngập ngay. Với viện trợ của Mỹ nhiều năm tiếp theo chế độ Ngô Đình Diệm và một miền Nam Việt Nam độc lập sẽ không bao giờ có thể tồn tại.

 Hơn nữa, từ năm 1954 Miền Nam Việt Nam đã có những bản tuyên bố liên tiếp nhắc nhở về những giúp đỡ của Hoa Kỳ , một loại trợ giúp không thể tìm thấy được trong những cuộc thương lượng và thỏa hiệp giữa Mỹ và những quốc gia khác trên thế giới. Sự thực thì không có điều gì mà không đánh giá được việc giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với Miền Nam Việt Nam vào thời điểm ấy cũng như sau này. Những trợ giúp này luôn luôn là những trợ giúp kinh tế và thường được kèm theo bằng những khuyến cáo rằng chế độ Ngô Đình Diệm cần phải thực hiện một nghĩa vụ đối với sự trợ giúp bằng cách cải tổ nền chính trị (để biến chính phủ của ông thành một chính phủ được lòng dân, Hoa Kỳ luôn luôn nhấn mạnh và nhiều lần áp lực buộc ông Diệm phải thực hiện việc mở rộng chính phủ cho những thành phần chính trị khác hay ngay cả đối lập ở Miền Nam, điều mà ông Diệm luôn từ chối).

(Còn tiếp)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn