01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5454)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16136)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4709)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4308)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4450)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

THE PENTAGON PAPERS Lịch sử những quyết định của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam - Kỳ 23

23 Tháng Mười Hai 201212:00 SA(Xem: 28188)
D. Những quyết định của Tổng Thống Kennedy ngày 29 tháng 4 năm 1961

Dù rằng hồ sơ của chúng ta (Mỹ) không ghi rõ, nhưng dường như bản ghi nhận bí mật được gởi đến Tổng Thống Kennedy là do Gilpatric ký, và được McNamara hiệu đính đã phản ảnh một quyết định được đưa ra sau khi văn kiện này tới tay Tổng Thống thay vì chỉ thay đổi ngôn ngữ trong bản ghi nhớ. Tại cuộc họp vào ngày 29 tháng 4 năm 1961, Tổng Thống Kennedy chỉ chấp thuận những đề nghị viện trợ quân sự hoàn toàn giới hạn như đã ghi bản dự thảo phúc trình đã được chuyển tới ông vào trước đó. Những quyết định đã tạm hủy bỏ sự cân bằng của văn bản, bao gồm cả bản phụ đính vào ngày 28 tháng 4 trong đó tác giả thêm thắt vào nhiều khoản viện trợ quân sự được cho là do tình hình Lào đòi hỏi. Những biện pháp quân sự được chấp thuận để tạm thỏa mãn những đòi hỏi lúc đầu bao gồm:

Tăng cường viên chức làm việc trong phái bộ MAAG theo yêu cầu nhằm bảo đảm việc thi hành một cách hiệu quả một phần kế hoạch viên trợ quân sự kể cả việc huấn luyện thêm 20,000 quân cho chính phủ VNCH và lực lượng quân đội chính qui của VNCH gồm 150,000 người. Đánh giá sơ khởi về việc cử nhiệm những người cầm đầu toán Cố Vấn Quân Sự (gọi tắt là CHMAAG) với cách tính toàn là cứ 685 cố vấn thì phải có thêm 100 quân nhân giữ vai trò chỉ huy.

Nới rộng trách nhiệm của Phái Bộ Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ (MAAG) để gia tăng thẩm quyền cung cấp viện trợ và cố vấn cho những đơn Vị Phòng Vệ Dân Sự (sau này thành Nghĩa Quân) với quân số tổng cộng khoảng 40,000 người

Chương trình Trợ Giúp Quân Sự (gọi tắt là MAP) yểm trợ cho toàn bộ lực lượng Phòng Vệ Dân Sự sẽ lên đến khoảng 68,000 người. Sự yểm trợ của MAP hiện mới bao trùm khoảng 32,000 người mà thôi trong khi 36,000 còn lại không được huấn luyện và trang bị đầy đủ.

Ráp đặt thêm hệ thống radar có khả năng dùng trong ngành quân báo hay không yểm. Về tiềm năng, Hoa Kỳ cần phải cung cấp thêm trang bị radar lưu động.

Trợ giúp những lực lượng diện địa không chính qui khác như một phương tiện để ngăn ngừa Việt Cộng nhận tiếp liệu và thẩm nhập vào bằng đường biển và sông. Sự yểm trợ của MAP không nằm trong Kế Hoạch Chống Nổi Dậy sẽ bao gồm việc huấn luyện cho những đơn vị không chính qui tại Việt Nam hay tại các căn cứ của Hải Quân Hoa Kỳ.

Điểm quan trọng cụ thể nhất có thể đọc được trong những quyết định ngày 29 tháng 4 (của tổng thống Kennedy) là Hoa Kỳ đã đưa ra những tín hiệu muốn vượt qua giới hạn quân số 685 người trong Phái Bộ MAAG tại Saigon, theo đó, nếu như điều này được thực hiện công khai sẽ trở thành hành động đầu tiên Mỹ và Nam Việt Nam chính thức vi phạm Hiệp Định Geneve 1954. Hơn nữa chúng ta (Mỹ) đã cung cấp viện trợ cho VNCH hào phóng hơn là những gì được đề cập trong kế hoạch Chống Nổi Dậy (CIP). Nhưng kích cỡ toàn bộ quân lực VNCH thì không cao hơn những gì từng được chấp thuận. (Việc gia tăng 20,000 quân đã nằm trong dự trù được chấp thuận của kế hoạch CIP). Cũng không có viên chức Mỹ nào đề nghị trong bản dự thảo phúc trình đầu tiên rằng chính phủ Hoa Kỳ quan tâm đến việc gởi quân sang Việt Nam. (thực ra quân số gởi sang Việt Nam chỉ là thêm 100 cố vấn quân sự chứ không phải quân tác chiến). Theo bất cứ một phân tích gia nào vào giai đoạn đó, đây không phải là hành động đáp ứng cuộc khủng hoảng.

Thực vậy, ngay cả trong trường hợp Tổng Thống Kennedy chấp thuận toàn bộ chương trình theo đề nghị của phúc trình ngày 26 tháng 4, dường như kế hoạch này nổi tiếng cũng chỉ vì “bất cứ nó là gì đi nữa, chúng ta cũng phải đạt được thắng lợi” về ngôn ngữ trong phần giới thiệu và mặt khác nó cũng nổi tiếng vì vai trò tối cao được giao cho Lực Lượng Đặc Nhiệm (và gián tiếp trao cho tướng Lansdale nhiệm vụ của một chỉ huy trưởng) kiểm soát chính sách tại Việt Nam. Giác thư của tướng Lansdale không để lại một mối nghi ngờ thực sự nào về sự kiện ông ta nhìn Bản Phúc Trình đúng như cách nhìn nói trên, điều mà người ta đã đoán biết trước tại sao Lansdale không khuấy động những khó khăn bằng cách áp đặt quan điểm gây tranh cãi của mình vào trong bản phúc trình. Thí dụ, Lansdale tin rằng điểm chính yếu trong chính sách Việt Nam là sự cần thiết phải biểu lộ sự hỗ trợ của Mỹ đối với ông Diệm, nhưng cuối cùng thì lại chỉ có những lời ám chỉ mơ hồ nhất xuất hiện trong bản phúc trình (bản dự thảo phúc trình sơ khởi còn không đề cập một chút nào về vai trò của Lansdale khi nó được đưa ra trong phiên họp ngày 24 tháng 4 năm 1961 của Lực Lượng Đặc Nhiệm).

... Chúng ta cần lưu ý rằng, thực ra đây cũng là một cam kết đáng chú ý đối với Miền Nam Việt Nam rồi, và trong những cam kết đó, thông thường Tổng Thống chẳng bao giờ bày tỏ sự ủng hộ một cách cụ thể cả. Việc sắp đặt nhân sự trong tổ chức với vai trò chính là tướng Lansdale cũng như Gilpatric cũng bị loại bỏ ở trong dự thảo những phúc trình sau này. Tất cả những yếu tố đằng sau những phiên họp đánh giá lại tình hình trong Tháng 5 đã đóng góp phần vào những quyết định thành lập Lực Lượng Đặc Nhiệm. Nhưng bản ghi nhận của Cố Vấn An Ninh Quốc Gia W.W Rostow và chiều hướng khiêm tốn nhất liên quan đến các đề nghị đang có kết quả cho thấy đây chỉ là phương thức thúc đẩy chính sách và chính quyền trở nên nhạy bén hơn là nghiên cứu một chính sách mới dựa trên súy đoán rằng những chương trình đang áp dụng đã trở thành vô dụng. Dù sao thì một chính sách mới về Việt Nam cũng có thể đe dọa kế hoạch CIP, vốn là điều mà ngay cả Lansdale cũng như Gilpatric đều không muốn vào giai đoạn đó.

[CHÚ THÍCH CỦA NGƯỜI DỊCH: Đến đây tôi nhận thấy có một điều phải làm rõ. Những dữ kiện xảy ra trong năm tháng đầu của năm 1961 quá nhiều khiến quí độc giả có thể có những ý nghĩa chồng chéo về ý định của người Hoa Kỳ. Họ có nhất quyết dấn thân thêm vào việc không để cho Miền Nam Việt Nam sụp đổ như Lào không, nghĩa là Miền Nam Việt Nam cũng sẽ có một chính phủ liên hiệp trung lập như ở Vạn Tượng hay không? Nếu căn cứ vào thái độ lấp lửng không rõ ràng của Tổng Thống John F. Kennedy khi ông ngồi vào Tòa Bạch Ốc thì chúng ta cũng không nên ngạc nhiên. Thực sự trước khi đưa ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh, ngay cả Tổng Thống Eisenhower cũng “mù tịt” về tình hình ở cái đất nước xa xôi ấy. Trong cuốn hồi ký “Argument Without End”, tạm dịch là “Cuộc Tranh Cãi (về Chiến Tranh Việt Nam) Không Bao Giờ Kết Thúc”, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara cũng đã than phiền rằng Tổng Thống Eisenhower và những phụ tá của ông cũng chỉ có thể nghĩ theo chiều hướng: Nếu con bài của Mỹ (phe quốc gia Lào) bị sụp đổ ở Lào thì đây là một hiểm họa cho Đông Nam Á và Việt Nam cũng sẽ đi theo chân Lào. Theo ông ta thì ý nghĩa này còn quá giản dị và rõ ràng đã bị Hà Nội dùng làm kế nghi binh. Hà Nội đã để lộ ý định sử dụng cuộc chiến tranh lũng đoạn để làm suy yếu dần Nam Việt Nam và làm Mỹ nản lòng. Sự thiếu hiểu biết về Nam Việt Nam của chính quyền Kennedy có thể biểu hiện qua việc xác định một chiến lược can dự vào Việt Nam bằng kế hoạch Chống Nổi Dậy (CIP). Kế hoạch này cứ bị thay đổi luôn luôn do sự tranh chấp về quyền lực để nắm Lực Lượng Đặc Nhiệm. Sự tranh chấp quyền lực dẫn đến sự tranh chấp về quan điểm xem có nên cứng rắn đòi ông Diệm phải cải tổ chính trị, nới rộng chính phủ cho những đảng phái khác tại Nam Việt Nam hay là nên đặt việc ủng hộ ông Diệm là một điều cần thiết trong chính sách về Việt Nam. Cơ quan đánh giá tin tức tình báo NIE cho rằng Việt Cộng ngày càng hoạt động mạnh hơn và trận Ấp Bắc đã cho thấy rõ cán cân lực lượng không có lợi cho Mỹ và VNCH. Để đối phó với sự xâm nhập của Cộng quân ở Miền Bắc và để làm tịt ngòi cuộc chiến tranh nhân dân mà Việt Cộng chủ trương từ Tháng 12 năm 1960, những chuyên viên tình báo Hoa Kỳ nghiêng về khuyến cáo: Chính quyền Miền Nam cần phải được cải tổ và được điều hành bằng môt chính sách cởi mở hơn. Họ lý luận, Việt Cộng tìm mọi cách để lấy lòng dân thôn quê (chứ không phải họ chỉ dùng phương sách khủng bố như người ta tưởng) thì chính phủ của ông Diệm ngày càng không được lòng dân. Chỉ nội tình trạng chênh lệch này đã đủ làm vô hiệu hóa viện trợ của Hoa Kỳ. Qua những ghi nhận của Rostow cố vấn an ninh quốc gia, Tổng Thống Kennedy đã nhìn thấy rõ ý định của Lansdale, nên mới có thái độ và những cam kết mơ hồ đối với Nam Việt Nam trước khi Lực Lượng Đặc Nhiệm được chính thức thành lập. John F. Kennedy có lý của ông ta: Cứ mãi ủng hộ một người bảo thủ không chịu thay đổi sẽ không củng cố được tình hình Nam Việt Nam] (V.T.N)

(Còn tiếp)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn