01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 7522)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17617)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5924)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5263)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5379)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Trịnh Công Sơn: âm nhạc và trái tim yêu người

02 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 17483)

(I)

Vào buổi trưa ngày đầu tháng tư 2001, từ tòa soạn tờ Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo, một nhật báo mà nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang là chủ nhiệm kiêm chủ bút, tôi nhận được tin từ Việt Nam cho biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời trước đó một ngày. Thời điểm đó, tôi đang là tổng thư ký của tờ Viễn Đông Kinh Tế Thời báo trong bối cảnh của một cộng đồng với những sinh hoạt chính trị rất phức tạp và báo chí truyền thông Việt ngữ vẫn còn phải tự kiểm duyệt để tránh bị biểu tình nên việc loan tin sự qua đời của một nhạc sĩ có ảnh hưởng đến lớp trẻ thời chiến như chúng tôi như Trịnh Công Sơn là một vấn đề nhạy cảm. Tôi hỏi Quang: “Mình loan tin chứ?”. Anh búng tay: “Có gì mà không loan”. Tôi cho phối kiểm lại tính chất đúng sai của mẩu tin và đích thân Nguyễn Đức Quang viết một bản tin loan báo cho số báo vào ngày hôm sau. Lúc đó, tờ Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo bị coi là một tờ báo “lề trái” vì đang có những nỗ lực đứng ra ngoài cái khung cấm kỵ rất phi lý qua một số bài viết nói thẳng cho những người chủ trương tung ra những sợi dây trói vô hình này rằng cố gắng của họ vô ích. Năm ấy, “chiến trường” mới vừa tạm yên sau một bài viết của tôi chỉ trích việc một số người làm chính trị và hoạt động cộng đồng đã phân biệt đối xử với Hòa thượng Thích Thanh Từ khi vị tu sĩ này từ Việt Nam sang giảng đạo ở Nam California. Khi vị thiền sư có nhiều ảnh hưởng xuất hiện ở quận Cam thì lập tức bị mặc áo đội nón cối, nhưng trước đó giám mục Phạm Minh Mẫn từ Saigon xuất hiện thì được giáo dân chào đón và bản thân ông không bị phiền toái gì về mặt dư luận. Tại sao? Câu hỏi còn cho tới ngày nay mà không có câu trả lời.

 

Tôi đưa ra sự kiện trên là để gợi nhớ lại với độc giả tình hình “võ miệng”, âm hưởng của cuộc chiến tranh quốc cộng đã kết thúc từ hơn 30 năm trước (thời điểm 2001) vẫn còn rất gay gắt. Trước ngày tang lễ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được cử hành tại Việt Nam, Nguyễn Đức Quang bảo tôi: “Ở cái đất này, biết bao nhiêu người là bạn ca hát với con người tài hoa đó nhưng không có anh nào dám làm gì để truy điệu nó cả. Sao kỳ lạ quá không biết ! Tớ định tổ chức một buổi, cậu nghĩ sao?”. Tôi nói nói: “Tôi không quen biết Trịnh Công Sơn, chỉ nghe nhạc của ông ta và tôi thì nay lại chẳng có gì để mất cả. Làm báo với ông nghèo bỏ mẹ, cho nên báo ông có vì vụ này mà thiên hạ kéo quảng cáo ra để nó chết, tôi đi kiếm việc nào khác chẳng hạn như ‘robert tay bưng’ lương có khi còn khá hơn lương tòa soạn đang trả tôi. Nói thật với ông chỉ vì mê và do cái nghiệp mà tôi khoái làm báo chỉ tổ làm cho thiên hạ đay nghiến mình. Trịnh Công Sơn có nhiều người nghe và ngưỡng mộ kể cả tôi và ông. Mình truy điệu một nhạc sĩ mình thích thì có gì mà sợ. Ở Mỹ mà còn nói đến chuyện sợ vì suy nghĩ của mình khác suy nghĩ của những ông, bà tự xưng là lãnh tụ chính trị ở đây thì hèn quá”.

Bọn tôi ra thông báo chỉ một ngày trước khi lễ truy điệu được tổ chức tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt cũ (nay thuộc nhật báo Viễn Đông đã cho một cơ sở thương mại khác thuê). Buổi tối hôm truy điệu Trịnh Công Sơn, khi còn đang loay hoay giúp Nguyễn Đức Quang duyệt soát lại ghế ngồi cho khách thì tôi đã thấy biểu ngữ, khẩu hiệu, cờ của người biểu tình phản đối đã dựng lên phía bên kia đường. Nguyễn Đức Quang lo lắng không biết có ai dám đến không. Nhưng trái với sự lo lắng của anh, khách đến rất đông, không còn ghế ngồi, phải đứng cả ra ngoài cửa. Nhóm người biểu tình đứng một lúc rồi giải tán và chúng tôi tiếp tục buổi truy điệu. Sáng hôm sau, các thùng báo của tờ Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo bị viết bằng sơn đỏ: Báo Việt Cộng! Chúng tôi cho người đi lau xóa chữ này, không phải do nỗi sợ rằng cứ để chữ đó trên các thùng báo, chúng tôi sẽ trở thành Việt cộng mất mà chỉ là vì trông nó bẩn quá! Vả lại bị phá hoại hay viết bậy thì phải xóa đi chứ. Đám băng đảng đi viết graffiti trên tường nhà người ta để tranh giành ảnh hưởng còn được cảnh sát thường xuyên đi xóa và sơn lại mà!

Tôi không hề quen Trịnh Công Sơn hay gặp ông thời gian chiến tranh dù là ở miền trung hay miền Nam, ở Huế, Đà Nẵng hay Saigon. Nhưng tôi biết Trịnh Công Sơn không thích chiến tranh nên phản chiến. Tôi cũng như bao nhiêu thanh niên khác thời bấy giờ cũng chẳng thích gì thích chiến tranh, nhưng tôi vẫn phải làm nghĩa vụ của người thanh niên, ngay từ khi chưa phải mặc áo lính thì đảm nhiệm vai trò của một phóng viên chiến trường, khi mặc áo lính rồi vẫn làm nhiệm vụ ấy. Tại sao người ta không thích chiến tranh thì nhiều người có nhiều lý do khác nhau để giải thích, để biện minh. Cá nhân, tôi không thích chiến tranh vì chiến tranh chỉ đem lại tàn phá, chết chóc và đau khổ.

Suốt 7 năm trong 11 năm làm phóng viên, miệt mài trên các chiến trường, chứng kiến lính, dân chết, nhà cửa mùa màng bị tàn phá, số trẻ em mất cả cha lẫn mẹ trong chiến tranh ngày một gia tăng và ngày càng có thêm nhiều người làm giầu vì chiến tranh, tham nhũng nhờ chiến tranh và những loại war monger nhan nhản trong các thành phố ở miền Nam. Tôi không phản chiến, nhưng lại rất thích nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, Bob Dylan và Joan Baez để cảm thấm được nỗi đau và thân phận bọt bèo của dân tộc Việt, để tự tìm cho mình một ốc đảo lánh thân sau những ngày tháng công tác mệt mỏi, để tự an ủi mình và ôm lấy hy vọng một ngày thanh bình không còn tiếng súng, không còn chết chóc vây bủa một dân tộc đang triền miên trong cuộc nội chiến:

Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi

Thịt da này dành cho thù hận,

Cho bạo cường cho tham vọng của một lũ điên…

(Hãy nói giùm tôi-Ca Khúc Da Vàng)

Và cũng vẫn Ca Khúc Da Vàng:

Người nô lệ da vàng ngủ quên trong căn nhà nhỏ

Đèn thắp thì mờ

ngủ quên đã bao năm

ngủ quên không thấy quê hương

Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích trói buộc dân ta

Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc tự do…

(Đi tìm quê hương-Ca Khúc Da Vàng)

Tôi không bao giờ nghĩ rằng họ Trịnh viết nhạc chỉ là để làm dáng. Ở vào thế hệ đương thời chúng tôi, người ta thường coi chuyện mài dũa, đánh bóng ngôn ngữ nhưng chỉ để luồn vào những vòng trang sức là những công trình văn nghệ. Nhưng Trịnh Công Sơn là một trong con số những người viết nhạc hiếm hoi không đi theo con đường ấy. Nhạc của ông sau thời kỳ vỡ lòng với “Ướt Mi”, “Biển Nhớ”, “Nhìn Những Mùa Thu Đi”... là bước sang ngay một thời kỳ mà tuổi trẻ của ông, tuổi trẻ của chúng tôi phải đương đầu với những vấn đề lớn của cuộc chiến tranh ý thức hệ mà ông không muốn tham dự. Nói một cách khác đây là thời kỳ âm nhạc hay văn học đều phải được thai nghén từ kết quả của những trải nghiệm và trái tim nóng hổi để tránh không bị dắt vào bước vào những bế tắc. Trong bối cảnh này, những suy nghĩ hết sức mới mẻ của Trịnh Công Sơn thoát ra trong những ca từ đã trở thành những tranh cãi mà cho tới nay vẫn chưa kết thúc.

Thực ra, những suy nghĩ và trái tim thổn thức của ông cũng vẫn chỉ là vấn đề dân tộc và thân phận, điều mà trước đây cũng như bây giờ một số người không ngần ngại gán cho ông chữ “phản chiến” với những hậu quả để dùng nó làm những lý do trì xiết ông. Chẳng hạn như trong tác phẩm “Một cõi Trịnh Công Sơn” xuất bản tại Việt Nam, tác giả Bửu Chỉ viết về Ca Khúc Da Vàng của họ Trịnh như thế này:

Tiếng hát đã tạo nên những hiệu quả trong đời sống xã hội thật sự. Nó đã làm cho một số không ít thanh niên nhìn ra cái bản chất phi nhân và tàn bạo của cuộc chiến khiế họ đi đến hành động trốn lính hay đào ngũ. Dưới con mắt của những người cầm quyền chế độ cũ, Trịnh Công Sơn là một kẻ phá hoại tinh thần chiến đấu của anh em binh sĩ…

Tôi thiển nghĩ, không phải chỉ có Bửu Chỉ mới viết như vậy đâu mà ngay tại hải ngoại này, một số người Việt Nam lưu vong vẫn còn có những lời lẽ cáo buộc nặng nề, thậm chí nguyền rủa Trịnh Công Sơn cho ông là nguyên nhân của sự tan hàng của quân đội VNCH. Tôi không biết họa sĩ Bửu Chỉ, một trong những thủ lãnh sinh viên xuống đường chống chính phủ toàn thời gian có bao giờ mặc áo lính không, có bao giờ tận mắt nhìn thấy máu, lửa và bom đạn ở mặt trận không, có bao giờ tiếp chuyện với những người lính VNCH đào ngũ bị bắt đưa ra tòa án quân sự không, nhưng theo tôi ông Bửu Chỉ có một nhận định sai về chuyện này và ông cũng nói quá về hậu quả của những “ca khúc phản chiến” của Trịnh Công Sơn.

Suốt những năm làm phóng viên mặt trận tôi đã có dịp nói chuyện với hàng trăm lao công đào binh bị đẩy ra vác đạn phục vụ chiến trường. Những lao công đào binh này phần đông là binh sĩ và hạ sĩ quan đào ngũ bị bắt và bị đưa ra tòa, bị tước đoạt binh quyền và bị đẩy đi vác đạn ở tiền tuyến. Lý do họ đào ngũ trên thực tế đa số là do hoàn cảnh gia đình, nghiện ngập, sợ phải sống theo kỷ luật quân đội và sợ chết. Trốn lính có nghĩa là trốn nghĩa vụ quân dịch. Có nhiều lý do để họ trốn lính chứ không phải do nghe nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn mà không nhập ngũ. Tôi sống hòa mình với những người lính khá lâu nên tôi có thể nói mà không sợ sai lầm là phần đông hàng ngũ binh sĩ, hạ sĩ quan là nghe cải lương và nhạc lính của Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Trúc Phương, Anh Việt Thu, Nguyễn Ánh 9, Y Vân, Nguyễn Văn Đông... chứ không phải là Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Ngô Thụy Miên hay nhạc tiền chiến, thính phòng.

Nhạc Trịnh Công Sơn hầu như chỉ hấp dẫn đối với những lớp trẻ thành thị xuất thân từ các trường đại học. Và khi gia nhập quân đội, lớp thanh niên này là những sĩ quan trung đội trưởng. Chính họ mới là những người trung thành với thuốc lá, cà phê và dĩ nhiên với nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Tuấn Khanh... Số người đào ngũ trong diện này không nhiều vì thật sự họ không muốn mình mang tiếng là hèn hay bị trừng phạt trước tòa án quân sự. Còn số người đào ngũ bị bắt, bị trừng phạt lột lon xuống binh nhì thì xuất phát từ những nguyên nhân rất phức tạp, chứ không phải vì nghe nhạc Trịnh mà dễ dàng cởi áo lính. Có lẽ họa sĩ Bửu Chỉ vì muốn bênh vực cho điều được gọi là lý tưởng của ông trong hàng ngũ sinh viên tranh đấu ngoài Huế nên ông đã thêm khối mầu đen vào trắng để nó trở thành xám trên bức chân dung của họ Trịnh làm thuận lợi thêm cho công việc tuyên truyền trong nhóm hoạt động của ông mà thôi.

Thực ra con người ấy là một bóng dáng lớn trong chiếu ngồi văn nghệ của miền Nam Việt Nam lúc đó do những công trình nghệ thuật tuyệt vời và trái tim nghệ sĩ của ông. Hiển nhiên, Trịnh Công Sơn, một con người như thế chẳng cần ai phải bênh vực. Vả lại những tác phẩm bất hũ của ông đã nói lên tất cả. Chúng là thơ và nhạc hòa quyện với nhau và những tác phẩm ấy chính là tình yêu được hiểu theo nghĩa mênh mông nhất của của con người, của một trái tim nghệ sĩ. Dường như ông là người viết nhạc duy nhất ở miền Nam Việt Nam bị người ta mô phỏng hình dạng của mình theo ý muốn, cách nhìn và tệ hơn là theo quyền lợi chính trị quốc cộng của mỗi người. Tôi chứng minh điều đó.

Tuy sự việc đã xảy ra từ năm 1972, nhưng cho đến nay tôi vẫn nhớ như in trong đầu mình rằng đó là năm chiến tranh giữa miền Bắc theo chế độ Cộng sản và miền Nam Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa đã trở nên ác liệt. Vào lúc ấy, Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi đã mở chiến dịch kiều bào vận bằng cách mời các sinh viên du học nước ngoài về thăm quê nhà và cái poster biểu tượng cho chiến dịch này đã dùng tiêu đề “Nối Vòng Tay Lớn” với lối trình bày để cho hàng chữ này chạy vòng chung quanh hai cánh tay nối vòng. “Nối Vòng Tay Lớn” là một ca khúc khá phổ biến của Trịnh Công Sơn. Nó thường được hát lên ở các buổi sinh hoạt thanh niên, ở các sân trường trung học, đại học có nội dung nói lên khát vọng thống nhất của một Việt Nam chia lìa đã quá lâu, chiến tranh núi xương, sông máu đã quá lâu, người Việt Nam chết đã quá nhiều, thù hận chất ngất. Tại sao chúng ta, những người Việt Nam lại không đi “từ đồng hoang vu, vượt hết núi đồi, vượt tác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn nắm tay nối liền biển xanh, sông gấm nối trọn một vòng tử sinh”.

Rừng núi dang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

Mặt đất bao la anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm nối trọn một vòng Việt Nam...”

(Nối Vòng Tay Lớn-Trịnh Công Sơn)

Nếu không đề cập đến phương cách thống nhất đầy tính chất quân sự và chính trị thường xảy ra cũng như những thực tế phũ phàng sau ngày 30-4-1975, nguyện vọng được bày tỏ trong “Nối Vòng Tay Lớn” là nỗi khát khao của cả một dân tộc, nỗi khát khao đẹp đẽ và đầy nhân ái mà ông cha ta cũng đã từng có giai đoạn như thế trong lịch sử. Cái chung trong nhạc Trịnh Công Sơn rất dễ biến thành cái riêng của mỗi phe phái trong cuộc chiến để cáo buộc lẫn nhau, để giành lấy phần phải về mình, bịt miệng phe phái chính trị khác. Cuộc chiến ở trong vũng bùn như ta đã thấy cũng không đủ sức xóa hết nguyện vọng chính đáng của người Việt Nam là hòa bình, thống nhất!

Tôi lại lấy một điển hình nữa, dù vào thời gian chiến tranh vào thập niên 1970 nhạc Trịnh Công Sơn cũng đã bắt đầu phải đi dưới hai lằn đạn rồi. Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa”, bản kiểm thính đài phát thanh của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam của Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia VNCH cho tôi thấy một chiến dịch bắt đầu ném bùn vào Trịnh Công Sơn và không ngần ngại gọi loại nhạc đang được hát tại Miền Nam Việt Nam của ông là loại nhạc “phá hoại tinh thần chiến đấu của bộ đội ta”. Tôi không ngạc nhiên về điều này. Đài “giải phóng” phản ứng như thế vì cái tên “Nối Vòng Tay Lớn” được đem đặt tên cho chiến dịch “kiều bào vận” mà Bộ Dân Vận phối hợp với Bộ Ngoại Giao VNCH thực hiện.

Hơn nữa ngay cả trong nội bộ chính phủ VNCH, dù không hề có bản thông báo nào cấm trình diễn nhạc Trịnh Công Sơn trên các hệ thống truyền thông nhà nước, nhưng vẫn có những ông “bảo hoàng hơn vua”, trách vụ thì nhỏ xíu mà vẫn ra lệnh kiểm duyệt tùy tiện để loại bỏ những ca khúc mà họ ngại là có ý chống chiến tranh. Năm 1965-1966, khi được điều ra một đài phát thanh vùng mới được thành lập theo chương trình JACOB để tạm thời điều khiển phòng Chương Trình và đồng thời giữ vai trò huấn luyện cho địa phương, tôi cũng đã gặp một ông tướng vùng “bảo hoàng hơn vua” về điều được gọi là nhạc phản chiến và sự việc này đã khiến cho Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ nổi điên lên và phải dùng nhiều áp lực mới khiến cho ông Tướng này bỏ ý định. Đó là Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Đoàn I kiêm Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Chỉ một tháng sau lễ cắt băng khánh thành đài, Tướng Thi ra một huấn lệnh cho đài Đà Nẵng là phải bỏ tất cả nhạc phản chiến để chạy nhạc hùng. Ông định nghĩa nhạc phản chiến là “tất cả những loại nhạc ủy mị, nhạc tình, nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Phạm Duy, Trần Thiện Thanh”. Ông nói: “Tất tần tật, loại nhạc ấy cho hát làm gì, mất nước, chỉ cần chạy nhạc quân hành và bình luận, còn tin tức cũng quăng sọt rác hết đi để bọn phản chiến không lợi dụng làm càn”. Tôi cầu cứu Thị trưởng Nguyễn Văn Mẫn. Ông Mẫn cũng “rét” ông tướng râu kẽm này lắm nên chuyện đành phải mang về trung ương. Tướng Kỳ đã phải đích thân gặp tướng Thi trong một cuộc họp ở Phủ Thủ Tướng để giải quyết, câu chuyện mới tạm êm.

Thời chiến, những chuyện ngược ngạo như thế xảy ra thường xuyên, mà ở vùng chiến thuật nào cũng có những “ông trời” này cả. Vì thế thân phận của nghệ sĩ, của những tác phẩm âm nhạc cũng mong manh bất trắc lắm, chứ không phải vàng son gì như một vài tác giả cứ chuyện gì mà xảy ra ở VNCH cũng cho là “nhất” hết đâu. Bởi cái gì cũng “nhất” không chịu “nhì” thì đâu có ngày 30-4-1975? Nhưng có nhiều chuyện nhất là chuyện súng đạn đã kết thúc vào cái ngày này rồi mà 38 năm sau ở cộng đồng Việt Nam lưu vong này, chúng ta vẫn còn nghe thấy tiếng nổ. Từ năm 2000, sau khi Phạm Duy bị một số người “chống Cộng” đưa lên bàn mổ, tới phiên Trịnh Công Sơn. Các “lý thuyết gia” chống Cộng đưa ra luận cứ: phản chiến ở Mỹ buộc Tổng Thống Nixon phải rút quân bỏ rơi VNCH thì nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn làm rệu rã tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH (?). Thế là có một chiếc quan tài bên ngoài có hình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được kéo khắp Little Saigon trong các cuộc biểu tình.

Chưa hết năm 2008, trên một vài trang mạng, luân lưu một bức hình với cái caption nói Trịnh Công Sơn ngồi chủ tọa một tòa án nhân dân. Nhìn vào bức hình chụp, chỉ thấy mờ mờ nhân ảnh một người ngồi với những người khác trong một cái bàn dài, tác giả bức chụp tuy có khoanh vòng tròn để nhấn mạnh người ngồi là Trịnh Công Sơn nhưng có dùng đến kính lúp nhân lên một triệu lầm cũng đành bó tay, không thể nhận ra ai. Đây là chuyện nhỏ đối với một trong những bóng dáng lớn lao nhất của nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20, nhưng nó cho thấy sự hèn mọn, và rác rưởi của một loại người làm chính trị với những cái đầu bế tắc, đặc cứng. Trong khi đó, bức thư được nói là của Trịnh Công Sơn gởi cho Ngô Kha năm 1974 được đăng trong cuốn “Một Cõi Trịnh Công Sơn” do Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây Xuất bản tại Saigon đã cho thấy có nhiều bất nhất, bị hoài nghi là giả mạo. Gần đây, ông Nguyễn Hữu Minh Hồng con trai của nhà thơ Đông Trình lục tìm trong thư viện gia đình một bản sao tài liệu cho thấy ngay cả vào cuối năm 1974 chỉ một chút xíu nữa là Trịnh Công Sơn đã bị Việt Cộng ở Quảng Nam thủ tiêu. Tôi sẽ trở lại đề tài này trong số báo sau.

Vũ Ánh

(Còn tiếp)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn