01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6952)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17213)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5566)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4977)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5076)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Một Mùa Hè Lẫm Liệt Trên Quê Hương. Kỳ 2 : Phản công

10 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 17801)
Để mở đầu cho Ngày 28 tháng 6, khai diễn chiến dịch giải tỏa toàn thể Quảng Trị, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã chuẩn bị, thực hiện những điều kỳ lạ kể từ ngày nhậm chức tư lệnh 1 tháng 5, chỉ hơn một tháng trước. Những điều kỳ lạ nầy không do chủ quan của phía người Việt tự định đặt, nhưng hiện thực trong báo cáo của Tướng Fred Kroesen, cố vấn trưởng Quân Đoàn I với Đại Tướng Abrams:

Ông ta đã làm cho ban tham mưu hoạt động chưa từng có ở Quân Đoàn I. Tướng Trưởng đã đẩy bộ máy kia chạy với một cách thế khẩn cấp không bao giờ thấy từ trước đến nay. Và Tướng Abrams đã không lầm đối tượng khi trao trực tiếp đến những người bạn vũ khí tối hảo mà ông vừa nhận được. Hai mươi giàn phóng hỏa tiễn chống tăng TOW được gởi ngay đến mặt trận Vùng I cho Sư Đoàn I Bộ Binh, Sư Đoàn TQLC, và Sư Đoàn Nhảy Dù với lời bảo chứng của riêng Tướng Ngô Quang Trưởng. Những vũ khí mới mẻ, công hiệu và chiến thuật linh động sáng tạo phối hợp nhau nên thành một thế trận liên hoàn dưới tấm thảm lửa yểm trợ của phi cơ chiến lược B52 từ Guam; giàn hải pháo, phi cơ của Hải Quân Mỹ từ Hạm Đội 7; phi cơ Mỹ, Việt từ Đà Nẵng, Chu Lai đã kết nên sức tổng lực của Lôi Phong mà những sư đoàn 304, 308, 324B và 325, tổng trừ bị của Miền Bắc đã phải chôn vùi phiên hiệu lẫn khả năng chiến đấu. Sau đây là những trận đánh khai cuộc điễn hình trước buổi oanh liệt quyết định với mục tiêu cổ thành.

Sau ngày 1 tháng 5, phòng tuyến cực bắc của miền Nam dừng lại ở sông Mỹ Chánh sau cuộc lui binh oan nghiệt, hỗn loạn, rời bỏ Đồng Hà, Quảng Trị, căn cứ Ái Tử và những vị trí trọng yếu bắc sông Thạch Hãn. Con sông rộng không quá một trăm thước chiều ngang kia thật sự không thể là tuyến phòng thủ thiên nhiên hữu hiệu, hơn thế nữa, đường tiếp cận trong Trường Sơn qua ngã thung lũng A-Sao, A-Lưới để về Huế đã hoàn toàn thuận lợi khi các binh đoàn cộng sản chiếm được những căn cứ hỏa lực Bastogne, Checkmate, cửa ngõ vào thành Phố Huế từ hướng tây-nam.

Nếu cộng sản tiếp tục lấn chiếm được đoạn phía nam Huế (đường đi Đà Nẵng), và cắt Đường Số I ở khoảng An Lỗ, theo chiều ngang của sông Bồ thì lực lượng thủy quân lục chiến nơi phòng tuyến Mỹ Chánh nầy sẽ nằm gọn trong một chiếc túi bị thắt chặt cả hai đầu Nam lẫn Bắc, không cần bị tấn công cũng sẽ phải rút đi, mà chắc gì thoát được về Đà Nẵng (chiến trận tháng 3, 1975 sau nầy là minh chứng cụ thể của ý niệm vừa trình bày).

Đoạn Mỹ Chánh - Huế chỉ khoảng năm mươi cây số, và sau Huế là Đà Nẵng với hơn 100 cây số còn lại. Chiến dịch tấn công Miền Nam của bộ tổng quân ủy Miền Bắc với tên hiệu Nguyễn Huệ ắt sẽ trở thành hiện thực với cuộc "Nam tiến ngụy danh giải phóng" nếu như phòng tuyến Mỹ Chánh vỡ từ đầu những ngày tháng 5, 1972. Nhưng Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Đại Tá Bùi Thế Lân (Đại Tá Lân thay Trung Tướng Lê Nguyên Khang giữ chức tư lệnh sư đoàn cùng ngày 1 tháng 5) với những Lữ Đoàn 147 và 258 TQLC dẫu bị tổn thất nặng trong suốt trận chiến kể từ tháng 3 nơi những căn cứ hỏa lực Holcomb, Sarge, Núi Bá Hổ, Mai Lộc nam sông Bến Hải, đã không để mưu định kia nên hiện thật. Hơn thế nữa, đơn vị trấn đóng phòng tuyến Mỹ Chánh trên Quốc Lộ I, điểm tấn công chính của Bắc quân nếu muốn mở đường về Huế kia lại là Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến "Trâu Điên" của Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, tiểu đoàn thượng thặng của binh chủng, cũng là đơn vị lừng lẫy nhất của quân lực cộng hòa. Thế nên, bộ binh miền Bắc không thể nào vượt qua được bảy mươi thước sông bề ngang mong manh nầy. Chắc chắn không thể được. "Một thằng ‘cháu của bác’ nào qua đây, tôi sẽ biệt phái nó đi gặp bác nó ngay". Trung Tá Phúc "Robert Lửa" đã nói như thế với những phóng viên báo chí tại bộ chỉ huy tiểu đoàn ở Đồi Đức Mẹ cạnh Sông Mỹ Chánh trong buổi họp báo bỏ túi ngày 1 tháng 5.

Chung quanh xác chết những đặc công cộng sản (đơn vị đánh thăm dò, mở đường qua cầu, hướng về Huế) nằm rải rác đến cây cầu vừa bị giật sập còn bốc khói. Từ phòng tuyến mong manh nầy, với lòng tin cậy đối với những đơn vị tăng phái hành quân, Trung Tướng Trưởng trả lại quyền điều động đơn vị cho Đại Tá Lân trong khu vực trách nhiệm. Lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được hành xử hết sức mạnh tổng hợp đúng kích thước của một sư đoàn. Biết như thế để hiểu tại sao đã có những thiệt hại oan uổng, vô lý ở trận Bình Giả, vùng rừng miền đông Nam Bộ tháng 12, 1964; với Lam Sơn 719, chiến dịch Hạ Lào cũng nơi đất Trị - Thiên nầy trong năm 1971. Đấy là khi các tiểu đoàn bị xé lẻ, và nguy hại hơn nữa nếu các đại đội tác chiến phải phơi thân đơn độc nơi những căn cứ hỏa lực, dưới cơn mưa lũ của đạn pháo cộng sản qua từng ngày dài chịu đựng, để đến một kết thúc không tránh khỏi khi các đơn vị ấy cạn đạn dược, không được tải thương, tiếp tế, không phi pháo yểm trợ.

Trận đánh nơi nhưng cao điểm "C - Charlie" ở chiến trường Tây Nguyên, Kontum với Tiểu Đoàn 11 Dù trong những ngày giữa tháng 4 vừa qua là một đau thương còn quá mới. Nay, người lính giành lại thế chiến đấu và tất nhiên họ phải chiến thắng. Nói lại thêm một lần cũng chưa đủ: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã trả lại cho người lính mặt trận Trị-Thiên sức chiến đấu thần kỳ của họ.

Từ phòng tuyến Mỹ Chánh, một đơn vị viễn thám TQLC ban đêm men theo bóng tối vượt qua sông chiếm cứ một đầu cầu để ngày mai, 12 tháng 5 cuộc hành quân Sóng Thần 5/72 khai diễn có vị trí đặt bộ chỉ huy hành quân. Với đoàn trực thăng cơ hữu CH 53 của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ từ Quân Vận Hạm Okinawa bay vào, hai Tiểu Đoàn 3 và 8 TQLC trực thăng vận đột kích chớp nhoáng xuống bờ biển phía tây Quận Hải Lăng, nam Quảng Trị khoảng 10 cây số.

Đến 9 giờ sáng cuộc đổ bộ hoàn tất, 1200 chiến sĩ cọp biển tràn lên trận địa, dạng hình những chiếc áo rằn màu xanh xô tới mãnh liệt như sóng biển. Quân tiến như qua chỗ không người, đám bộ đội trở tay không kịp bởi phía chỉ huy Bắc quân chỉ đề phòng cuộc tấn công từ mạn Nam lên tức từ nơi phòng tuyến Mỹ Chánh. Nhưng thật cũng có một cánh quân tiến lên từ phía nam, đấy là Tiểu Đoàn 9 TQLC vượt sông ghìm chặt Trung Đoàn 66 Bắc Việt cả hai mặt Bắc-Nam. Đơn vị cộng sản phân tán mỏng rút lui để lại 240 xác chết đếm được.

Chúng ta nên trở lại yếu tố kỹ thuật trận liệt đã một lần bàn đến –Quân số thiệt hại của cộng sản hẳn phải gấp ba lần xác chết để lại trên chiến địa kia. Ba tiểu đoàn thủy quân lục chiến tổn thất nhẹ, rút về lại phòng tuyến Mỹ Chánh trong buổi chiều cùng ngày, chỉ phải để lại một trực thăng CH 53 trúng đạn đã được phá hủy tại chỗ. Phía tư lệnh mặt trận B2 (của Bắc quân) kể từ khi khai diễn chiến dịch Nguyễn Huệ tổng tấn công Miền Nam bị khựng lại với câu hỏi: Phía quân Nam sẽ đánh vào đâu? Như thế nào? Chiến dịch Nguyễn Huệ sau nầy được giới nghiên cứu quân sự thế giới đánh giá là cuộc tổng tấn công lớn thứ hai của khối cộng sản kể từ lần xâm lăng Nam Hàn năm 1950 ở bán đảo Triều Tiên với 300,000 ngàn chí nguyện quân Trung cộng.

Năm ấy, danh tướng Mac Arthur có dưới tay 365,000 quân (Mỹ và Liên Hiệp Quốc), được cả thế giới yểm trợ, và tâm lý quần chúng, quốc hội Mỹ phấn khởi, tự tin sau thắng lợi Thế Chiến Thứ Hai đồng thuận (kể cả thái độ gián tiếp của Liên Sô), mà đã phải rút lui về bán đảo Pusan trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Nay trận chiến mùa Hè 1972, hoàn toàn không có bộ binh Mỹ tham dự, và không quân Mỹ thực hiện lần cứu viện cuối cùng cho đồng minh trước khi bị Tu Chính Án Frank Church kìm giữ hẳn. Trong "Việt Nam A History", với tính vô sĩ hèn hạ lộ liễu, Stanley Karnow trình bày chuyện kể về Việt Nam hoàn toàn cố ý nhảy qua đoạn chiến sử năm 1972 nầy. Ông ta chỉ khai thác đề tài Mậu Thân Huế với chi tiết ngụy tạo: "Phía Việt Nam Cộng Hòa cho người lẽn vào ‘khu giải phóng- khu vực do phía cộng sản tạm chiếm’ giết những người ‘tình nghi đã cộng tác với bộ đội cộng sản’, xong ném vào chung hố với những nạn nhân do cộng sản chôn sống để vu oan là ‘cộng sản giết người!’”

Đây là chứng cớ gian trá mà sau 45 năm đạo diễn Lê Phong Lan đã dựng lại bộ phim “Mậu Thân -1968” để chạy tội cho bộ đội cộng sản giết dân Huế. Stanley Karnow chứng minh điều gọi là trung thực của câu chuyện qua trích dẫn bài hát Trịnh Công Sơn: "Chiều đi qua Bãi Dâu, vỗ tay trên những xác người". Theo ý của ông ta, những xác người nầy là do phía Việt Nam Cộng Hòa sát hại rồi đỗ tội cho Việt cộng!! Và nếu "như có thật" một số người bị chết bởi tay bộ đội cộng sản, thì cũng chỉ là do "Việt cộng, tức du kích cộng sản Miền Nam" trả thù những kẻ "có nợ máu đối với nhân dân", chứ bộ đội Miền Bắc hoàn toàn vô can trong vụ tổng công kích và thảm sát người ở Huế.

Cộng sản Hà Nội đến cỡ của Tố Hữu cũng không thể trân tráo hơn được. Chúng ta tạm rời bỏ những xảo trá đê tiện chính trị qua cuốn sách gọi là "một trong những công trình nghiên cứu tuyệt phẩm - cách của báo Chicago Tribune tán tụng Karnow", kẻ hãnh diện gọi là "thành phần trí thức thuộc nhóm phản chiến Mỹ", để trở lại chiến trường với những người lính của quê hương.

Không để cho phía cộng sản có được thời gian chuẩn bị cuộc phản công, Tướng Trưởng chỉ thị đến hai tư lệnh chiến trường, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh và Đại Tá Bùi Thế Lân, TQLC phải thanh toán hai gọng kềm Tây- Nam và Đông- Bắc Huế trước lần tổng phản công lên mặt Bắc. Mặt trận Tây - Nam được thực hiện theo diễn tiến như sau: 9 giờ 15 ngày 14 tháng 5, 1972 tại bộ chỉ huy hành quân Trung Đoàn 1 Bộ Binh, Tướng Phú nhận được báo cáo mới nhất của cánh quân Trung Đoàn 3, đơn vị đánh chiếm lại căn cứ Bastogne (bị mất từ Tháng 3) từ mạn Bắc. Bastogne là tên do các đơn vị Mỹ đặt để nhắc lại trận đánh lừng lẫy của Sư Đoàn Nhẩy Dù 82 trong Thế Chiến thứ Hai do Tướng Maxwell Taylor chỉ huy, nay Sư Đoàn I đặt lại với một danh tự đầy cảm xúc là căn cứ Thuận Hóa, tên cũ của Thừa Thiên-Huế từ ngày Chúa Nguyễn vào Nam mở nước, thế kỷ 17. Người Quảng Trị, Thừa Thiên dựng nước và mở nước từ đất Ái Tử, Thuận Hóa, nên người lính Sư Đoàn I phải trở lại Thuận Hóa vì ở đấy không chỉ là một mục tiêu quân sự, nhưng là biễu tượng sức chiến đấu của đơn vị, tấc lòng của dân, quân tha thiết với phần đất cha ông.

Trận đánh từ sáng sớm đến xế chiều vẫn chưa có kết quả quyết định dù phía Trung Đoàn 3 đã báo cáo: "Chúng tôi vượt qua hàng trăm xác của địch, nhưng bởi hệ thống chốt của chúng (đào theo hình chữ A) quá dày đặc nên không thể nào thanh toán mau chóng được. Thành phần bộ đội giữ chốt lại bị xích chân vào súng, nên chúng không thể chạy trốn, quân ta phải thanh toán từng chốt một cho đến gã lính cuối cùng bị tiêu diệt, và vì thế cuộc tiến quân phải trì chậm lại." Báo cáo chính xác cuối ngày dừng lại với con số 346 địch chết tại chỗ và 100 súng đủ loại bị tịch thu, phần đông là thượng liên và đại liên phòng không, những chốt lớn còn có súng cối do một tiểu đội (10 người) trách nhiệm cố thủ. 

Trên đỉnh "T - Bone", nơi đặt bộ chỉ huy hành quân, Tướng Phú nói cùng với phái đoàn báo chí và phóng viên điện ảnh từ Sàigòn đến: "Nội trong đêm nay, Sư Đoàn I sẽ trở lại Bastogne. Trở lại Bastogne để chứng tỏ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thừa sức để tái chiếm bất cứ vùng đất nào mà trước đây tạm bỏ."

Nhưng dự định của Tướng Phú và quyết tâm của người lính Sư Đoàn I không thực hiện đúng hẹn được, bởi hai Tiểu Đoàn K5 và K9 cộng sản quyết liệt chận đứng cánh quân Trung Đoàn 3, nhất là tại đỉnh 100 (cách Bastogne 800 thước), đơn vị chốt tại đây tử chiến tuyệt vọng, không khoan nhượng. Nửa đêm, rạng 14 qua 15, Tướng Phú vào máy truyền tin dã chiến nói chuyện trực tiếp với người chỉ huy Trung Đoàn 3: "Chỉ trong đêm nay, hay ngày mai, chứ không thể là 22 hay 29 tháng 5, mấy đứa con đầu của anh (các đơn vị tấn công tiền phương) có vào được hay không? Đừng nói lòng vòng... Các anh đừng làm hổ danh Sư Đoàn I !"

Sáng sớm ngày 15, Tướng Phú sau lần tiếp xúc mật với Tướng Trưởng, có ngay quyết định táo bạo: "Dùng một đơn vị trinh sát nhảy xuống Bastogne xong từ trong đánh ra ngoài, liên kết với lực lượng của Trung Đoàn 3 từ ngoài tấn công dứt điểm." Cuộc trực thăng vận dự trù lúc 10 giờ sáng, đợi cho trời bớt sương mù theo yêu cầu an phi... 10 giờ, 11 giờ, 12 giờ... từng giờ một phải được kéo lùi vì khu trục không nhìn thấy mục tiêu để đánh dọn bãi cho quân bạn. 13giờ 30- Giờ G của chiến dịch đột kích bắt đầu. 18 pháo đội 105 và 155 ly đồng tập trung hỏa lực trút xuống Bastogne vũng lưới lửa. Mỗi pháo đội có 6 khẩu súng, tức 108 nòng đại pháo cùng lần tác xạ; mỗi pháo đội nhận được lệnh "pháo đội 10 tràng", có nghĩa số lượng đạn bắn đi nhân lên 10 lần số súng kia. Pháo binh chấm dứt để khu trục vào vùng. Đoàn khu trục thuộc Phi Đoàn 518 từ Biên Hòa ra tăng phái mặt trận giới tuyến từ đầu tháng 4, những chiếc phi cơ AD 6 nầy thật ra là đã thuộc loại "bỏ đi" của không quân lẫn hải quân Mỹ chỉ dùng để huấn luyện, vì đã quá giờ bay sau Đệ Nhị Thế Chiến 1945, nhưng khi vào tay phi công Việt Nam với những "người sinh ra để bay Skyraider", là loại khu trục cánh quạt có khả năng mang số bom nặng hơn trọng lượng của nó như những danh tính Nguyễn Văn Cử, Phạm Phú Quốc (thế hệ đàn anh) hoặc Trần Thế Vinh, Phạm Văn Thặng hôm nay, chúng trở thành một vũ khí tấn công, yểm trợ tiếp cận cho bộ binh tuyệt hảo. Chỉ từ một tuần từ 2 đến 9 tháng Tư, năm 1972 Trần Thế Vinh đã hạ 21 chiến xa với những trái bom đặt dưới cánh phi cơ của anh. Sáng ngày 15 nầy cũng thế, những trái bom rơi từ phi cơ AD6 của Phi Đoàn 518 như đặt vào những trái bóng nhỏ vào những chiếc lỗ khít khao, bật tung toàn bộ hệ thống cố thủ của các chốt quanh và của chính Bastogne. Sau đợt dội bom cường tập, Trung Đội Trinh Sát của Thiếu Úy Hiệp nhẩy xuống mục tiêu khi còn nguyên mùi bom, lửa cháy trên đất đá. 9 giờ sáng ngày 16, đại quân Sư Đoàn I chiếm lĩnh tất cả các cao độ quanh Bastogne. Từ trên cao nhìn xuống, lá Cờ Vàng của Thuận Hóa, Bastogne đỗ nát sáng rực giữa chập chùng màu xanh của rừng và hơi khói đạn chưa tan. 

Sau thất trận thê thảm ở cửa ngõ vào Tây-Nam Huế, nơi thung lũng A-Sao, sư đoàn 324B phải rút về Lào để tái bổ sung, biến mất khỏi chiến trường Trị-Thiên. Nhưng thất bại quân sự của phía cộng sản không chỉ dừng lại với sư đoàn 324B mà còn kéo dài, mở rộng hơn với ảnh hưởng sâu xa đối với toàn thể mặt trận phía Bắc nói riêng, và sách lược của cuộc tổng công kích Mùa Xuân 1972 trong tầm phương án tổng quát. Chúng ta hãy theo dõi tiếp sức mạnh vô địch của Lôi Phong.

Do một tính toán sai lầm tai hại (sau nầy giới nghiên cứu chiến lược, quân sử Mỹ Việt, kể cá phía cộng sản đồng xác nhận đấy là sai lầm của chính Võ Nguyên Giáp), phía Bắc quân mở trận đánh phục thù vào ngày 21 tháng 5 bằng đội hình mở rộng trên trận địa với chiến xa và bộ binh tùng thiết theo chiến thuật cổ điển của chiến tranh quy ước. Trên vùng lau sậy bạt ngàn dọc Phá Tam Giang song song với bờ biển, bộ binh và chiến xa cộng sản dàn đội hình theo trục lộ 555 (con đường nối Quận Hải Lăng, cực nam Quảng Trị về Quận Phong Điền, bắc Thừa Thiên). Kiểm soát được tuyến đường tức là nối được trục tiếp vận Bắc- Nam của vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh địa đầu mà mà không cần phải phụ thuộc vào Quốc Lộ I, hiện tại không thể vượt qua được chốt Cầu Mỹ Chánh (do Tiểu Đoàn 2 TQLC trấn giữ, phần trên vừa trình bày).

Lực lượng cộng sản thoạt tiên tấn công các đồn địa phương quân và nghĩa quân, thành phần nầy được lệnh rút bỏ vị trí, lui về phòng tuyến của TQLC. Nương theo đà thắng lợi ban dầu, Bắc quân thọc sâu về phía nam định bao vây, bọc hậu hai Tiểu Đoàn 3 và 9 TQLC. Nhưng hai đơn vị nầy đã áp dụng một kế sách tuyệt diệu: Bỏ trống trận địa không cho phía cộng sản chọn lựa chiến trường, để rồi giành lại ưu thế, khả năng thủ thắng cuộc giao tranh theo kế hoạch hành quân riêng của mình, bằng cách lui binh sâu về phía nam năm cây số lập phòng tuyến mới. Khi binh đội cộng sản tiến vào khu vực bỏ trống mà hai Tiểu Đoàn 3 và 9 vừa rút khỏi thì cơn mưa lũ lửa, sắt, thép của hàng trăm phi cơ Việt Mỹ cùng đổ xuống (nơi những vị trí đã sẵn yếu tố tọa độ tác xạ, dội bom). Không chịu buông thả mục tiêu như đã ấn định, sáng sớm ngày 22, lực lượng cộng sản tập trung hai mươi chiếc chiến xa còn lại mở đợt tấn công lần hai vào vị trí Tiểu Đoàn 3 và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 369; nhưng có gắng nầy hoàn toàn phá sản, bởi những giàn phóng hỏa tiễn TOW do thủy quân lục chiến xử dụng đã khai triển, vận động hết hỏa lực đáng sợ của nó, bắn hạ 10 chiến xa T-54 ngay trong đợt phản công đầu tiên, có chiếc bị cháy chỉ cách hầm chỉ huy lữ đoàn khoảng 400 thước. Thế trận Bắc quân hoàn toàn tan vỡ, thiệt hại 542 xác đếm được mà theo ước tính phải thêm một trung đoàn bị loại ra khỏi vòng chiến.

Như cơn điên mê của loài thiêu thân tuyệt vọng, phía tư lệnh Mặt Trận B2 cộng sản lại chuyển mũi dùi tấn công sang phía tây, vùng trách nhiệm của Lữ Đoàn 258 TQLC và Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân. Cách đánh thí quân nầy không gây thâu đạt một kết quả nhỏ nào mà còn để lại hơn hai trăm xác nằm chật trên những bờ bãi lau lách màu đỏ thẫm. Màu đỏ vốn có do từ nước cặn phèn nay thêm sẫm màu bởi máu đọng vũng. Không để cho địch quân có thì giờ dưỡng thương, lực lượng thủy quân lục chiến xử dụng lữ đoàn còn lại đánh dập toàn bộ những mũi tấn công của binh đoàn cộng sản cố lấn sâu xuống phía nam sông Mỹ Chánh. Kế họach tấn công dứt điểm được hình thành với cuộc hành quân Sóng Thần 6/72 để đưa Lữ Đoàn 147 TQLC vào trận.

Có thể nói rằng, đây là một cuộc hành quân thủy-bộ được tổ chức cao nhất từ trước đến nay của chiến tranh Việt Nam do phối hợp nhịp nhàng, vận dụng hết khả năng cơ động của binh chủng TQLC/VN, kỹ thuật khoa học quân sự hiện đại tinh vi của quân đội Mỹ, cùng sức mạnh ghê hồn của hỏa lực phi pháo. Ngày 23 tháng 5, Tiểu Đoàn 7 TQLC kín đáo rời phòng tuyến bố quân để ra bến tàu Tân Mỹ, năm cây số đông- bắc Thị Xã Huế; tiểu đoàn xuống tàu nhỏ ra Hạm Đội 7 đậu ngoài khơi, chờ giờ vượt tuyến tấn công mà đến lúc nầy cấp chỉ huy mới phổ biến cho binh sĩ biết.

Cần mở một giải thích quan trọng về địa thế của chiến trường được chọn. Từ lúc chiến tranh Đông Dương Thứ Nhất (1945-54), vùng đất thuộc eo biển Miền Trung dọc Phá Tam Giang, nằm giữa Quốc Lộ I và bờ biển nầy là một vùng cấm kỵ đối với lực lượng quân đoàn viễn chinh Pháp, bởi địa thế quá hẹp, trống trải, nhưng lại là vùng sình lầy không thuận tiện việc điều động cơ giới, bộ binh di chuyển khó khăn, lại không có chướng ngại thiên nhiên để che dấu khi tiếp cận mục tiêu, hoặc ẩn tránh nếu xẩy ra trận đánh. Tháng 7, 1953 Tướng Navarre (thay thế Tướng De Lattre giữ chức tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương từ tháng Năm 1953) vừa cầm quyền được hai tháng, đã mở cuộc Hành Quân Camarque với một lực lượng thủy bộ đến ba mươi tiểu đoàn để đánh bật Trung Đoàn 95 cộng sản ra khỏi vùng, giải tỏa áp lực địch mạn bắc Huế. Vì Huế luôn là một địa danh có giá trị tinh thần, tác động chính trị đối với tâm lý người Việt, vẫn còn lòng ngưỡng vọng một ông vua với danh hiệu quốc trưởng, và danh xưng nghi lễ "hoàng thượng, hoặc bệ hạ". Nhưng dù khoa trương rầm rộ, cuộc hành quân phải chấm dứt vài ngày sau vì số thương vong do mìn bẫy quá cao, và không có một đụng độ đích đáng như dự trù.

Và dù trận liệt đã báo cáo bắt được 387 tù binh, 182 địch bị hạ, nhưng Trung Đoàn 95 kia vẫn hoạt động, và tiếp tục chiến đấu ở thời gian sau. Từ đấy, binh sĩ quân đoàn viễn chinh Pháp gọi địa danh đáng sợ nầy với một tên hiệu thê thảm "Dãy Phố Buồn Thiu", và học giả người Mỹ Bernard Fall đã dùng làm tiêu đề cho một biên khảo của ông về chiến tranh Đông Dương lần Nhất (1945-1954). Thế nên, địa danh trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu quân sự, và người viết nên cuốn sách kia cũng đã thiệt mạng do mìn bẫy khi theo quân đội Mỹ hành quân trên vùng đất nầy vào năm 1967.

Nhưng nay, Lữ Đoàn 147 TQLC phá tan huyền thoại âm u kia lẫn lời tán tụng: Sư Đoàn “nặng" 325 tổng trừ bị quân đội Bắc Việt là một đơn vị "quân đội nhân dân anh hùng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Với một phối hợp đồng bộ tuyệt hảo, Bộ tư lệnh tiền phương của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đặt trên Soái Hạm USS Blue Ridge cùng với ban tham mưu hạm đội điều hành, chỉ huy cuộc hành quân đưa Tiểu Đoàn 7 trở lại bờ biển bằng tàu đổ bộ của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ. Khi đoàn quân cách bờ khoảng ba cây số, giàn hải pháo của Hạm Đội 7 xử dụng những đại pháo có đường kính 16 inches hay 406 mm như của Thiết Giáp Hạm New Jersey đổ một màn lửa, và mãnh thép công phá xuống các bãi đáp dự trù; sau cơn bão nhân tạo do các hải pháo, phi cơ hạm đội xuất kích với Sky Hawk của hải quân, hoặc F-4C Phantom, A-7E Corsair của thủy quân lục chiến, tiếp dọn sạch các mục tiêu, và cuối cùng, con bài chủ lực, B52, vũ khí cột trụ của Lôi Phong được gọi tới trãi tấm thảm lửa hung hản suốt chiếu dài bãi biển dọc theo hương lộ 555.

Lửa cuồng cuộn tung hoành đỏ rực sóng biển, hắt ánh hồng át mặt trời vừa bắt đầu bình minh. Từ khoảng cách hai cây số, (khoảng an toàn tối thiểu đối với B52, vốn là phi cơ oanh tạc chiến lược), hai đợt tàu đổ bộ gồm mỗi đợt 40 chiếc đưa Tiểu Đoàn 7 ào vào bờ như những cơn sóng biển... Mà thật sự là một biển người đồng loạt xông lên bờ cát còn nóng mùi lửa. Đơn vị cộng sản cố thủ bờ biển trong chớp mắt phân tán mỏng chạy về phía Quốc Lộ I tìm đường sống sót. Một đại đơn vị chỉ còn mười tù binh ngơ ngẩn vì quá sợ hãi đưa cao tay đầu hàng lính thủy quân lục chiến. Nhưng đơn vị cộng sản tháo chạy về hướng Quốc Lộ I (để vào vùng núi phía tây), hoặc về phía bắc (hướng sông Thạch Hãn) không còn được hy vọng trốn thoát lần cuối, vì hai Tiểu Đoàn 6 và 4 TQLC đã nhảy xuống giao điểm nút chặn (của Hương Lộ 555 - hướng nam-bắc, và Hương Lộ 602- hướng đông-tây) với cuộc trực thăng vận thần tốc thực hiện trong giờ Tiểu Đoàn 7 đổ quân.

Hai Tiểu Đoàn 4 và 6 đụng độ ngay tại bãi đáp với Trung Đoàn 18, đơn vị thuộc Sư Đoàn 325, mà bộ chỉ huy đã thoát khỏi trận địa từ sau những thiệt hại từ giữa tháng 5. Sau bảy ngày "chà láng" mật khu "Dãy Phố Buồn Thiu", Lữ Đoàn 147 trả khung cảnh im lìm cho khu vực đúng như tên gọi, rút lại về phòng tuyến Mỹ Chánh. Quân đội cộng hòa rút đi cùng lần biến mất khỏi trận địa những đơn vị từng là huyền thoại của bộ đội cộng sản Miền Bắc - Hai trung đoàn mang danh số 66 và 88 của quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa hoàn toàn mất dấu khỏi hồ sơ trận liệt kể từ ngày, tháng nầy. Chỉ trong vòng một tháng 5 năm 1972 trong vùng trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến đã có tới hai ngàn xác đếm được, hơn ngàn vũ khì bị tịch thu, 60 chiến xa bị loại khỏi vòng chiến, có chiếc khi bị "bắt sống" còn nguyên vũ khí, số đạn cấp phát. Chiến sĩ của những Tiểu Đoàn 8 và 6 TQLC của Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Đỗ Hữu Tùng (*) đã không cho xạ thủ những chiếc tăng nầy bắn được một viên đạn.

Trong chuỗi biến động quân sự, hỗn loạn chính trị dài lâu ở Miền Nam, có hai nhân vật được báo chí tây phương, điễn hình với giới truyền thông Mỹ - luôn khao khát "anh hùng, loại người có tiếng tăm hoặc gây tai tiếng" - gán cho tước vị, "người làm rung rinh Mỹ quốc": Võ Nguyên Giáp và Trí Quang. Bởi hai con người nầy đã từng là thần tượng của đám trẻ nhỏ ăn chưa no, lo chưa tới trong những cuộc biểu tình nơi đường phố Sài gòn ở nhưng năm 60, 70; và những người gọi là "trí thức, học giả, văn nghệ sĩ, chính khách phản chiến" ở Mỹ, Tây Âu... Những thành phần ưu tú của xã hội Âu Mỹ có hiểu biết và cách giải thích chiến tranh Việt Nam không cao hơn tầm, cỡ một gã đạo diễn làm phim ảnh giải trí, hoặc một cô đào hát bóng ở Hollywood. Nhưng tất cả đã hoàn toàn bất tác động trước Người Lính VNCH với Tướng Quân Ngô Quang Trưởng. Không phải chỉ một lần, mà suốt trong hai thập niên, từ Mùa Hè hỗn loạn 1966 đến ngày Ngày Hè Lẫm Liệt 1972.ª

(*)Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn 2 và Đỗ Hữu Tùng, Tiểu Đoàn 6 sau nầy chỉ huy Lữ Đoàn 147 TQLC đã tự sát cùng lần với binh sĩ thuộc quyền tại bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng trong ngày 29 tháng 3, 1975 khi đơn vị buộc phải lui binh theo lệnh từ Sài Gòn.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn