01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 6831)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17129)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5480)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4938)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5016)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Viết về một di sản ở Little Saigon - Người khai phá quán ăn Việt Nam giữa vùng đất mới

07 Tháng Bảy 201312:00 SA(Xem: 21465)
LTG: Đây là bài báo tôi viết đã lâu, cách đây khoảng 17 năm đăng tải trong mục “Thế Giới Quận Cam” của nhật báo Viễn Đông Kinh Tế Thời Báo. Mọi chuyện hiện nay có thể đã có một vài thay đổi, nhưng là một nhà báo, tôi vẫn coi đây là những kỷ niệm khó quên trong đời làm báo ở hải ngoại khi tình cờ bắt gặp những con người tiên phong trong việc kinh doanh trên vùng đất mới. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây rằng sự xúc động của một người đến sau khi mọi thứ đều đã sẵn sàng từ cộng rau ngò cho tới chai nước mắm, từ bát phở hấp dẫn tới ổ bánh mì kẹp thịt, từ những tiệm ăn nhỏ cho tới những khu chợ đầy những hàng hóa mang hương vị quê hương và mang đến chút ấm lòng người xa xứ đã khiến tôi viết bài báo này. Nhiều bài đã thất lạc nhưng may mắn tôi còn giữ được vài bài. Nhân kỷ niệm 25 năm ngày cái nôi của người Việt Nam tị nạn mang tên Little Saigon, tôi muốn gởi bài này để bày tỏ lòng tri ân đối với những người tiên phong khai phá các quán ăn, chợ búa, các ngành nghề dịch vụ, báo chí, truyền thông Việt ngữ và tất cả những ai mở đầu trang sử hội nhập chính trị dòng chính tại đây vào thời điểm vẫn còn được coi là vừa “chân ướt chân ráo” đến Mỹ. Sau đây là nguyên văn bài báo cũ:

 

 

Bà Phạm Thị An trong nhà bếp tiệm ăn đầu tiên của người Việt, trên đường First, Quận Cam, năm 1979. Hình: Gia đình cung cấp.

Nếu có người nào lưu tâm và không phủ nhận quá khứ thì khi bước vào Hội Quán Ba Miền sẽ không coi đây là một tiệm ăn mới. Tiệm ăn này nằm tại một khu kinh doanh góc đường Lilac và Harbor với một bề mặt khang trang và phần trang trí nội thất phía trong giản dị mà trang trọng. Người chủ quán là một phụ nữ nay đã trọng tuổi với nét mặt phản ảnh vẻ lạc quan của một người đã phấn đấu vượt lên sự khó để ngày nay bắt đầu tuổi hưu mà sự làm việc chỉ để thỏa cái tính hay làm. Những ai đặt những bước chân đầu tiên lên đất Santa Ana chắc hẳn trong ký ức còn nhở đến người phụ nữ này, bà Phạm Thị An, người khai phá quán ăn Việt Nam giữa vùng đất mới và là người đã làm cho món “poor boys” trở thành một hình ảnh mạnh mẽ trên đất New Orleans.

Người Mỹ hay gọi thành phố Santa Ana bây giờ là một mảnh đất nào đó từ Mexico tách ra và trôi nổi đến quận Cam. Có thể là vì cái “chất Mexico” của thành phố kể cả cái tên gọi của nó. Nhưng đối với bà An, có thể đó cũng là mảnh đất trôi lạc từ Phi châu hay từ Việt Nam quê hương phía bên kia bờ đại dương của bà. Lý do cũng dễ hiểu. Năm 1975, khu Bolsa chưa có. Cho nên khi những đoàn người di tản từ Việt Nam đổ vào trại Pendleton, những người dân địa phương gần cận với những vườn dâu mênh mông đã hiểu rằng những thị trấn sấm uất rồi sẽ mọc lên.

Trong đoàn người đổ xuống Pendleton không có gia đình bà Phạm thị An. Họ xuống Fort Chaffee vẫn còn chưa quên nếp sống của một gia đình khá giả, sung túc bằng kinh doanh ở Saigon và canh tác đồn điền ở Bảo Lộc. Trong cơn tan tác, gia đình bà An không toàn vẹn. Bà an lưu lạc với 8 người con, còn chồng bà thì bị kẹt lại cho tới mãi sau này. Đối với người Mỹ, một gia đình như thế là quá đồ sộ. Nhưng nếu vào thời gian sau này mà họ gặp lại bà An, chắc chắn những người Mỹ từng biết bà sẽ còn phải kinh ngạc hơn nữa: Gánh nặng đè trên vai người đàn bà, cây cột duy nhất trong gia đình.

Những ai đến Mỹ những năm sau này vào lúc mà tất cả mọi thứ đều đã sẵn sàng: khu phố Bolsa trung tâm buôn bán của người Việt Nam, chợ búa, tiêm ăn, cửa tiệm bách hóa, những văn phòng dịch vụ... thì sẽ không thể hiểu rằng những con người đặt những bước chân đầu tiên lên đây đã phải làm việc trong tình trạng như thế nào để ngày nay bóng dáng của hoang dã đã bị đẩy lùi, ngoại trừ những kỷ niệm về nó. Chẳng hạn như khi bà Phạm Thị An và gia đình rời khỏi Fort Chaffee để về định cư tại thành phố Dallas, tiểu bang Texas. Giữa một thành phố bao la như vậy, một phụ nữ không biết và không nói được tiếng Anh và cũng không phải là giỏi về bếp núc sẽ phải xoay xở như thế nào để nuôi dưỡng 8 người con. Nếu chúng ta đi hỏi một ngàn người phụ nữ Việt Nam trên đất Mỹ này rằng họ phải làm gì và làm như thế nào để thích ứng với cuộc sống mà trước đó có người chưa hề bao giờ nghe nói tới thì đều thấy rằng có cả ngàn hoàn cảnh khác nhau trong mớ kinh nghiệm đáng nhớ và đa dạng về cuộc đổi đời.

Lục lại những hình ảnh không thể phai mờ được trong quá khứ, bà An nói:

Nhìn cuộc sống của mấy đứa con, mọi ngượng ngùng bay biến hết. Tôi quấn chả giò chiên và đi bán rong. Tiếng Anh, tiếng Mỹ thì chả biết, chỉ có mỗi câu: No good, No pay ! (Ăn không ngon, không lấy tiền). Cuốc bộ hết phố này qua phố khác, vào bất cứ tiệm ăn nào cũng chào hàng. Được cái luật pháp về thực phẩm cách nay 21 năm còn dễ. Thực khách bắt đầu thích cái món mà người Việt Nam còn mê. Dần dần, người đặt hàng đông hơn nên phải mướn người cuốn và chiên cũng kiếm tiền đủ nuôi con. Nghĩ lại cũng thấy tức cười”.

Khi nghe bà an nói “Nghĩ lại cũng thấy tức cười...” tôi hiểu rằng bà An giữ những kỷ niệm đó một cách trân trọng. Nó ghi dấu cả một đoạn đời của một phụ nữ vượt lên trên những lề thói cũ của một gia đình có quá khứ thịnh vượng. Không một từ ngữ nào có thể nói lên những cố gắng vượt khó tuyệt vời của bà An trong hoàn cảnh đó bằng từ ngữ can đảm, sự can đảm thấm đậm chất bi hùng của Đông Phương.

Thế bác có bao giờ cảm thấy ngượng ngùng khi lần đầu tiên trong đời trong vai trò của một người hàng rong không? ”- Tôi hỏi bà.

“Có gì mà ngượng với chả ngùng. Đói thì đầu gối phải bò, có ăn trộm ăn cắp gì của ai đâu mà sợ” - Bà trả lời với sự cởi mở.

Đất lành chim đậu. Khi biết tin những người Việt Nam tị nạn kéo về quận Cam ngày càng đông, ba An mang gia đình về Nam California sau hơn một năm sống tại Dallas. “Con đường Đầu Tiên” (đường First) thời điểm đó đúng là điểm đầu tiên của người Việt di tản đến quận Cam. Nhưng câu đất lành chim đậu thì hoàn toàn trái ngược với những suy nghĩ trước đó của bà An. Ý nghĩ được sống quay quần trong một cộng đồng toàn những người đồng hương khiến cho bà An phải trả cái giá của nó. Có được một chút vốn liếng dành dụm trong hơn một năm làm việc cật lực ở Dallas, bà An thuê một cửa tiệm để mở quán ăn Việt Nam trên “Con đường Đầu Tiên”. Hội Quán Việt Nam của bà An là tiền thân của Hội Quán Ba Miền ngày nay.

Hai mươi hai năm sau, một thời gian khá dài kể từ ngày bước những bước chập chững để gầy dựng lại đời sống từ con số KHÔNG, bà An chắc sẽ giữ mãi những kinh nghiệm đã trải qua sau khi Hội Quán Việt Nam được thành lập. Nói là hội quán cho có vẻ quan trọng một chút chứ thực ra theo lời bà An và các cô con gái của bà bấy giờ đã trưởng thành và làm nên thì đó chỉ là một tiệm ăn thô sơ: Tiệm ăn Việt đầu tiên trên “Con Đường Đầu Tiên”. Bà Phạm Thị An nói:

Ông không biết đâu, tôi thuê một tiệm ăn mà chung quanh là khu mất an ninh. Ở đây bọn lưu manh tập trung sống bằng cách chứa gái điếm và bán ma túy. Chúng bắn giết nhau hàng ngày trước cửa tiệm của tôi. Vậy mà tôi cũng vẫn phải cắn răng làm việc. Gia đình ở Fountain Valley, nhưng cửa tiệm lại ở dưới này. Sáng thức dậy từ 6 giờ đưa con đi học, sau đó về tiệm lo làm đủ thứ bán cho khách ăn sáng, trưa và tối. Thường chỉ hết việc sau 2 giờ khua, sợ chúng phá tiệm nên tôi cứ phải ngủ lại tiệm. Cứ miếng vải nhựa cuốn tròn nằm lăn ra là ngủ...”

Mở tiệm ăn bao giờ cũng là dịch vụ cực nhọc mà những người đầu tiên chưa có kinh nghiệm không thể nào tưởng tượng ra được. Nhưng sức làm việc của bà An giống như người vô địch trong một cuộc chạy việt dã. Những người bạn thân của gia đình bà An đều xác nhận điều này. Riêng Joseph Nolen, một bỉnh bút chuyên về thực đơn và nhà hàng đã viết trên tờ Los Angeles Times vào năm 1979 về bà Phạm Thị An như sau:

Cái quảng cáo bên cạnh lại không phải là quảng cáo của một thực khách rất thích nhà hàng Việt Nam, tức là tên mới của Hội Quán Việt Nam. Tôi không biết tên gia đình của nhà hàng Việt Nam tại Santa Ana. Nhưng tôi biết một chút ít về tiểu sử và những món ăn Việt Nam ở đó. Những người Việt Nam tị nạn với một gia đình 10 người trong đó người cha còn bị kẹt tại Việt Nam, người mẹ và 8 đứa con điều hành một nhà hàng ở Santa Ana để mưu sinh. Tọa lạc tại số 2323 West First Street trong một khu thương mại của người Việt Nam, nhà hàng này rộng thênh thang như một phòng tập thể dục, lại rất vui... Lần đầu tiên tôi đến đây cùng với 5 người bạn sành ăn. Ăn 4 món cộng thêm tráng miệng, chúng tôi chỉ phải trả 17.45 đô la cho cả 6 người, trong khi đi du lịch tại Pháp, bạn sẽ phải trả hóa đơn của một tiêm ăn giống như những hóa đơn bác sĩ của bạn vậy. Tôi biết rằng tiệm ăn này nấu ăn thật tuyệt và thực ra cũng khó mà kiếm được một tiệm nào như thế để mà thưởng thức khi cần. Một phần cũng bởi cái vẻ mặt lúc nào cũng lạc quan của người chủ quán khiến không ai có thể ngờ rằng người phụ nữ này từng gặp nhiều khó khăn cả. Thứ hai thực phẩm ở đây được chế biến khéo léo và giá lại rẻ không thể tưởng tượng nổi...” (Báo LA Times số ra ngày 21-10-1979).

Những món ăn mà tờ báo Mỹ Los Angeles Times đề cập đến vào lúc đó là những món gì. Bà An cho biết đó là cơm tấm bì chả, cơm bì, cơm xào, cháo lòng, phở... Những món ăn này là những món thông thường của người Việt Nam, nhưng lại đòi hỏi một số gia vị và rau thơm mà lúc đó rất hiếm, chẳng hạn như bún chả Hà Nội. Ngày Chủ Nhật, hội quán và sau này là Nhà Hàng Việt Nam phải tiếp khoảng 1,000 khách ở Santa Ana cũng như ở các thành phố khác có người Việt Nam đổ về. Công việc lấy công làm lời ở Mỹ này không nói ra mọi người đều hiểu rằng nó cực nhọc đến mức nào. Nhưng cực nhọc đến như bà An và các con của bà thì không ai có thể tưởng tượng ra được. Bà An nói:

Chiên xào và nấu phở suốt ngày cho đến chiều thì chân tay tôi như cứng lại, đầu tóc như thoa gel. Con út, Thu Vân, rửa chén đến nỗi ngủ gục luôn trong bồn rửa. Ngoài giờ học ở trường cả 8 đứa con đều phải phụ mẹ. Sống cũng lam lũ lắm, nhưng có cái vui là sống trên đất Mỹ này”.

Hơn ai hết, bà An hiểu chữ “survive” dành cho những người nhập cư khi họ phải tái lập đời sống của hoàn cảnh thật chơi vơi. Vậy mà bà An vẫn còn mở thêm bàn bi-da và buổi tối mở khiêu vũ để cho những cư dân Việt Nam trong khu phố hay từ những nơi khác đến giải trí. Ca sĩ chỉ có vài người không chuyên nghiệp. Vậy mà không khí cũng ồn ào nổi đình đám. Bởi lý do này mà cũng có thể kê thêm tên bà An vào danh sách là một trong số những người đầu tiên mở bi-da và khiêu vũ trong cộng đồng người Việt ở quận Cam. Tuy những ngành kinh doanh của bà An chỉ mới trong thời kỳ phôi thai, nhưng lạ thay, nó lại là những hoạt động mầu nhiệm để những sáng kiến ấy được thực hiện rộng rãi sau này. Âu đó cũng là cái duyên đến một người mà 22 năm trước đó không hề biết nấu nướng chi cả.

Cho đến năm 1981, do những biến chuyển bất ngờ và do nhu cầu cần có thời giờ học cho những đứa con, bà An lại mạo hiểm xuôi về thành phố cảng New Orleans của tiểu bang Louisiana, một thành phố lúc đó chưa có được bao nhiêu người Việt Nam đến ở. Thành phố này vốn gốc Pháp, với những hầm nhạc jazz nổi tiếng nhất nước Mỹ không phải là điều có thể hấp dẫn được bà An. Có lẽ chuyến đi này, theo như lời bà chỉ là do sự thúc đẩy của ý muốn phiêu lưu bàng bạc và ý thức khai phá những thị trường mới. Mở một tiệm Seafood-To-Go ngay trong khu của người da đen không được an toàn lắm cũng bằng giá trị của một cuộc thám hiểm. Nhưng sự can đảm và cách xử thế của bà An đã khiến công cuộc làm ăn của bà phát triển không ngờ, và điều không ngờ nhất là quán ăn của bà với những hải sản luộc và xốt mayonnaise, với những chiếc “poor boys” nổi tiếng cả thành phố đã trở thành quen thuộc và thân mật với bất cứ người Mỹ nào từng ghé qua hải cảng này.

“Poor Boys” không phải là “những đứa trẻ nghèo” như nghĩa đen của từ ngữ mà là một loại bánh mì kiểu Pháp ở giữa kẹp tôm lăn bột chiên, với xà lát, cà chua, pico và mayonnaise bán với giá 3 đô la một chiếc. Bà An nói rằng trong lịch sử của Louisiana và một vài tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ, “poor boys” là thực phẩm của người nghèo, nhưng cho đến những thập niên sau này nó trở thành món ăn thông dụng từ người nghèo cho đến người giầu có. Báo chí Mỹ ở News Orleans cũng đã có những bài báo khen ngợi “Những Cậu Bé Nghèo Khó” của cửa tiệm do bà An làm chủ. Ba mươi công nhân đi giao hàng cho bà An đều là những thanh niên da đen. Họ quí bà ở sự cương quyết, lòng can đảm và tấm lòng đôn hậu của bà. Bà giúp họ những món tiền để vượt qua khó khăn và quan tâm cả đến đời sống của gia đình họ. Có nhiều công nhân đã gọi bà bằng cái tên thân mật “mom”.

Ngày nay khi ngồi ở Hội Quán Ba Miền, bà không giấu được sự xúc động khi nhớ lại cửa tiệm cũ ở New Orleans bên cạnh một bờ biển bao la với những con người khác mầu da, nhưng vẫn thông cảm và hiểu được nhau. Tất cả cũng chỉ vì mọi người đều biết rõ con người là như thế nào. Năm 1992, bà An phải bán tiệm vì thấy mệt mỏi, tuổi cao và cần thời giờ nghỉ ngơi. Những người con trai, con gái của bà đã nên người, đã có những công việc và hạnh phúc riêng. Suốt trong mấy năm liền bà Phạm thị An dùng thời giờ vào việc viếng thăm con cháu. Những người quen biết của gia đình này tưởng rằng “nghề nhà hàng” của bà An đã kết thúc. Các con của bà thì không ai muốn theo đuổi nghiệp này vì họ nghĩ rằng họ không thể chịu đựng sự cực nhọc mãi.

Nhưng tháng 10 vừa qua (mấy tháng trước thời điểm tôi viết bài này cách đây 17 năm-TG) trong một trung tâm thương mại góc Lilac và Harbor, người ta thấy xuất hiện Hội Quán Ba Miền. Anh Cẩm, người con rể của bà An cho biết:

Bà cụ vẫn không thể bỏ được cái nghiệp ấy. Chúng tôi biết rằng cũng cần một chỗ để cho cụ ra vào sinh hoạt tuổi già. Nhưng dù vậy cụ cũng vẫn là người nêm nếm dưới bấp. Nhưng có khác là bây giờ cụ làm việc không phải dựa trên lợi nhuận nữa mà là dựa vào lòng say mê bếp núc của cụ...”

Anh Cẩm và bao nhiêu người con khác trong gia đình này đều hoạt động trong những lãnh vực khác nhau. Nhưng Hội Quán Ba Miền đối với họ vẫn quan trọng, không phải vì lợi nhuận mà vì một kỷ niệm lớn trong đời người mẹ và những đứa con. Nó là hình ảnh những bước chân can đảm của một phụ nữ, một bà mẹ Việt Nam đơn thân lao vào dòng sống mới và xa lạ để cho những gốc cây gia đình từng bị trốc trong cơn lốc của biến cố lịch sử có thể bén rễ trên quê hương mới...

Vũ Ánh

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn