01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 5905)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 16588)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4975)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 4561)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 4668)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Từ “Dấu Binh Lửa” đến “Chuyện Dọc Đường” và “Phận Người Vận Nước” của Phan Nhật Nam

19 Tháng Chín 201312:00 SA(Xem: 8642)
Độc giả từ xa mua sách xin liên lạc: (714) 856-4635; hoặc email: tuanbaosong@gmail.com


Khi Khánh Hòa và Vũ Đình Trọng hỏi ý kiến tôi về việc in những tác phẩm cho Người lính - Viết văn Phan Nhật Nam, tôi nói thẳng công việc của nhà xuất bản Sống không phải là lãnh vực chuyên môn của tôi. Nhưng theo tôi, nếu chọn đầu sách tái bản để lưu giữ một di sản thì có lẽ không gì hơn là hai cuốn “Dấu Binh Lửa” “Dựa Lưng Nỗi Chết”. Rồi tôi nói với hai người bạn trẻ thuộc thế hệ sau tôi về Phan Nhật Nam như một người bị đồng nhập. Lý do tôi vẫn chung thủy với những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam của Phan Nhật Nam chính là do ảnh hưởng rất sâu đậm từ cách nhìn cuộc chiến của ông qua “Dấu Binh Lửa” và sau đó là “Dựa Lưng Nỗi Chết”.

Trong giới làm văn, làm báo, làm truyền thông, chúng tôi cứ hay lẩm cẩm phân biệt giữa văn chương và cách viết mô phỏng của người phóng viên, biên tập viên, ký mục gia, bỉnh bút. Cãi nhau cứ loạn cả lên, nhưng thực tế một nhà báo có nhiều tác phẩm báo chí nói với tôi rằng ông nhất định không phải nhà văn. Năm Phan Nhật Nam ra mắt “Dấu Binh Lửa” tại nhà hàng khách sạn Lục Địa (Continental), tôi đã làm phóng viên tiền tuyến được 4 năm và thời điểm ấy, 1969 đang phải tạm dừng việc hành nghề để làm quen với súng đạn, với bài học chiến thuật, quân luật, quân phong, quân kỷ, thi hành trước, khiếu nại sau tại trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh gọi.

Nói như thế để mọi người hiểu rằng tôi yêu quân đội, yêu những người lính chiến từ trước khi bước chân lên đồi Tăng Nhơn Phú. Cho nên, những năm tháng sau này, vào những lúc chiến tranh lan rộng nhất và vào những lúc VNCH ở vào vị trí chênh vênh nhất trong những ván cờ chính trị tại Paris, Moscow, Bắc Kinh và Washington D.C, trong chiếc ba lô đầy những kỷ niệm của binh lửa từ năm 1964 tôi mang theo trong những chuyến công tác xuôi ngược giữa các mặt trận và Saigon, không thể thiếu cuốn “Dấu Binh Lửa” của Phan Nhật Nam được để lẫn với những bao gạo sấy, thịt hộp, thuốc chống khát, vài gói thuốc lá Bastos xanh, băng nhựa ghi âm cho chiếc máy ghi âm UHER-2000 SL và chiếc máy chữ Olivetti xách tay nhỏ xíu.

Tôi mê “Dấu Binh Lửa” của Phan Nhật Nam vì qua đó tôi bắt gặp những tâm hồn chiến binh VNCH chưa bị ảnh hưởng bởi những gì đang diễn ra ngoài tầm tay của họ. Hay nói một cách thẳng thắn, đó là hình ảnh của những người lính thuần túy “bảo quốc an dân”, những người lính chiến thực sự mang trên vai mình cả gánh sơn hà và niềm tin vào lý tưởng “bảo vệ miền Nam Việt Nam tức là bảo vệ gia đình và bà con chòm xóm” của mình chưa bị hoen ố bởi sự lệ thuộc quá đáng vào người Mỹ.

Hơn nữa, “Dấu Binh Lửa” và “Dựa Lưng Nỗi Chết” được hình thành từ trái tim thật sự bốc lửa của người lính viết văn Phan Nhật Nam, một trái tim thuần thành, vững chãi và dứt khoát tin vào những gì ông đã trải qua thời thanh niên và những gì ông được tôi luyện ở một trường võ bị nổi tiếng nhất Việt Nam và Đông Nam Á là trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Và chính niềm tin đó đã giúp cho Phan Nhật Nam trở thành nhà văn Việt Nam đầu tiên dùng văn chương để viết ký sự chiến trường. Tác phẩm đầu tay của ông đã trở thành mô hình mới để ký sự chiến trường không còn là những bản ghi biên niên thời sự với thứ tự thời gian và những con số thống kê lạnh lẽo về thiệt hại nhân mạng của hai bên tham chiến.

Cụ La Phương, một phóng viên mặt trận cho tờ Le Journal d’Êxtreme Orient tại Saigon và sau làm việc cho văn phòng AFP trong những tuần trà đen tại quán Cái Chùa (La Pagode) ở góc đường Tự Do và Lê Thánh Tôn Saigon với đám phóng viên trẻ chúng tôi, thường nói: “Các cậu phải học thằng Nam. Tao đã từng nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ nhưng bảo tao viết lại trận đánh ở đấy thì vô phương, chẳng đủ chữ nghĩa. Những gì nó viết trong Dấu Binh Lửa là chiến tranh thật, và chiến tranh phải như thế, đ... phải là đi đóng phim để các cậu quay”.

Ngày nay, sau khi đã đọc toàn vẹn bộ sách gồm 2 cuốn “Chuyện Dọc Đường”“Phận Người - Vận Nước” của tác giả mình yêu thích, tôi thấy Phan Nhật Nam vẫn còn giữ nguyên được sự thủy chung với niềm tin mà ông đã đốt lên cho tuổi trẻ cùng thời. Nhưng xem ra cái khẩu khí của ông trong “Phận Người - Vận Nước”“Chuyện Dọc Đường” không còn như những tác phẩm của ông được ấn hành trước ngày 30-4-1975. Nó như có lẫn vào chất cay, đắng mà hậu quả có thể đến từ những can qua và sự thay đổi của thế sự.

Các nhân vật của ông trong hai tác phẩm vừa kể vẫn là những Lô, những Mễ, những Nhã, những Bảo, những Trang, những Phúc “lửa”, Bùi Quyền... và những sĩ quan vốn là chỉ huy cũ của ông trong Sư Đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến với những câu chuyện đầy bi phẫn của những người từng là ngôi sao sáng của chiến trận trước biến cố chính trị và quân sự 30-4-1975. Cả hai tác phẩm đã cho chúng ta toàn bộ hình ảnh của một người lính chiến qua những biến cố chính trị để cuối cùng thành người lính thua trận.

Điều đáng nói nhất là trong những tác phẩm mà ông hàm ý là cuối cùng của đời mình, Phan Nhật Nam vẫn tin rằng ông có thể giải thích sự thua trận không phải là người lính VNCH chiến đấu dở mà là từ những nguyên nhân “vượt khỏi trách nhiệm của một người lính”. Ông viết trong phần dẫn nhập mà ông khẳng định viết từ một “trái tim lửa” như sau, xin trích:

Người Cộng sản không phải hên may nên đoạt chiến thắng và chúng tôi những người lính quân lực VNCH không hề thua vì kém chiến đấu. Chúng tôi đã thua trận từ nguyên nhân vượt khỏi trách nhiệm của người lính, quá xa tầm súng và sức chịu đựng của chiếc lưng. Chiếc lưng mang khối nặng ba lô đã khởi đi từ một thưở rất lâu, những năm sau thế chiến thứ hai khi loài người đang cố gắng chữa trị vết thương, xóa bỏ dấu ấn của sự chết”.

Trong suốt chiều dài những tác phẩm của ông, từ “Dấu Binh Lửa”, “Dọc Đường Số 1”, “Ải Trần Gian”, “Dựa Lưng Nỗi Chết”, “Mùa Hè Đỏ Lửa”, “Tù Binh và Hòa Bình” trước 1975 cho đến “Những Chuyện Cần Được Kể Lại, “Đường Trường Xa Xăm, “Đêm Tận Thất Thanh”, “Mùa Đông Giữ Lửa” xuất bản sau năm 1975, hai tác phẩm “Phận Người - Vận Nước”“Chuyện Dọc Đường” mang cái hơi hướng tổng kết toàn bộ những gì ông đã viết, đã nói, đã trải qua dọc hành trình đầy chông gai của người lính Phan Nhật Nam.

Tôi không có điều gì thắc mắc những gì ông đã nói về phận người, về vận nước nhưng tôi hiểu ý nghĩa thực tế của “phận”“vận”. Buổi sáng ngày 30-4-1975 khi trong cơ quan mà tôi phục vụ là “Tiếng Nói VNCH” ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phan Đình Phùng, những người chỉ huy lớn trên tôi đã biệt dạng từ 10 ngày trước, nhìn quanh nhìn quẩn vẫn còn thấy đủ mặt những người vẫn còn trung thành với chế độ VNCH. Họ đặt hết hy vọng vào tôi vốn chỉ là một cấp chỉ huy trung gian duy nhất còn có mặt tại hệ thống, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về “phận”“vận”, và cho rằng những ý tưởng có tính chất triết học này rút cục chỉ là hậu quả của lòng trung thành và tận tụy với lý tưởng mà mình đi theo. Khi người ta không còn lý tưởng gì giữa cơn lâm nguy của đất nước mà chỉ còn tìm cách thoát thân thì phận hay vận chẳng còn ý nghĩa gì. Phậnvận là từ chính chúng ta làm ra chứ không chỉ còn ý nghĩa triết học từ trên trời rơi xuống.

Những gì tôi chứng kiến, những gì tôi đã nhìn thấy tận mắt mình trong bối cảnh tan hàng của một quân đội từng được xếp vào hàng thiện chiến nhất ở Á Châu như quân đội VNCH, những điêu đứng của hàng chục triệu người Miền Nam Việt Nam sau khi Saigon thất thủ trong đó có gia đình tôi, bà con họ hàng, chòm xóm khiến cho ngày nay, tôi cũng như Phan Nhật Nam cũng như biết bao nhiêu người khác còn giữ cái chất “sĩ” trong đầu không thể biện minh gì cho sự thua trận của chúng ta nếu chúng ta vẫn nhất mực nói rằng chúng ta thua chỉ vì những nguyên nhân ngoài trách nhiệm của người lính.

Buổi trưa hai ngày thứ Hai của Tháng Tư-1973 cách đây 40 năm, tôi đứng ở khu nhà khách của Tòa Bạch Ốc Miền Tây tức là căn nhà riêng của Tổng Thống Richard Nixon để chờ bản thông cáo chung kết quả của cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và Tổng Thống Richard Nixon, tôi đã nghe câu chuyện trao đổi giữa Walter Cronkite và Chủ tịch AFL-CIO là George Meany về sự chống đối của Quốc Hội Mỹ đối với khoản viện trợ cuối cùng cho VNCH. Nhưng cho đến lúc cả hai tổng thống trước báo chí để mỗi người có những tuyên bố riêng về kết quả của hội nghị thượng đỉnh, tôi thật sự thất vọng.

Bản thông cáo chung khá ngắn gọn chỉ đề cập một cách mơ hồ về thứ mà chúng ta (VNCH) cần nhất vào thời điểm đó: Khoản viện trợ cuối cùng để tái phối trí sau khi Mỹ rút hết quân ra khỏi Việt Nam theo Hiệp Định Paris. Trong khi hai người bạn khác trong ê-kíp phóng viên truyền thanh của chúng tôi đang tìm cách thăn dò phản ứng của một số chính khách Hoa Kỳ đứng chờ để lần lượt ra xe trở về Washington DC, tôi bắt tay từ giã Ronald Ziegler, Tham vụ Báo Chí của Tổng Thống Nixon. Ông ta hỏi tôi: “Ông có bao giờ nghĩ rằng ông nên xin một bổng đến học ở trường báo chí Annenberg vào năm tới không?”. Tôi nói với ông rằng lúc này tôi chưa thể nghĩ đến điều đó. Mãi về sau này khi vào nằm trong tù Cộng sản rồi nghĩ lại, tôi mới hiểu ra cái hàm ý của Ziegler.

Hai năm sau hàm ý ấy, thảm kịch 30-4-1975 diễn ra, vị Tổng Tư Lệnh quân lực VNCH xin từ chức vào trưa ngày 21-4-1975 và tuyên bố sẽ chiến đấu bên cạnh quân đội. Chiều 25-4-1975, ông lặng lẽ đem gia đình và một vài phụ tá thân cận nhất rời khỏi Saigon trên chuyến bay đặc biệt do Đại sứ Mỹ Graham Martin cung cấp để bay sang Đài Loan nơi người anh cả của ông Thiệu đang làm Đại sứ vào lúc đất nước đang nghiêng ngửa và dưới cánh máy bay mang ông thoát ra khỏi nước Việt biết bao nhiêu đồng đội, đồng bào của ông đang còn chống cự một cách tuyệt vọng dưới sự tấn công bằng thế tiến mạnh như chẻ tre của người Cộng sản.

Tôi không hiểu là trên chuyến bay đó ông Thiệu và những phụ tá của ông nghĩ gì về những điều ông đã làm được trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông, tôi lại càng không thể hiểu trong đầu con người từng có những lời cảnh cáo hết sức thực tế về người Cộng sản trong những chiến dịch chống Cộng nghĩ gì về một tướng lãnh dưới quyền ông là Tướng Lê Minh Đảo đang như con mãnh hổ lồng lên giữa một quần hồ đông như kiến đang “thừa thắng xông lên” quyết lột da xẻo thịt người anh hùng này? Và dĩ nhiên, ông Thiệu cũng chẳng ngờ rằng những thuộc cấp của ông như các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú và Trần Văn Hai đã đã phải dùng chính khẩu súng của họ để giữ nhân cách của người làm tướng khi thấy địch đã tràn ngập thành và đồng thời để rửa mặt cho những nhà lãnh đạo đang lờ đi trách nhiệm của một thuyền trưởng khi con thuyền quốc gia đang chìm đắm dưới sóng cả.

Cho nên khi đọc toàn bộ hai cuốn “Phận Người Vận Nước”“Chuyện Dọc Đường”, tôi phải cảm ơn Phan Nhật Nam đã lựa chọn một cách cẩn thận những nhân vật lính vốn là những người thật, việc thật cho tác phẩm của mình, ở đó tôi vẫn thấy y nguyên những người lính mà tôi gặp ở tiền tuyến và cũng đã từng gởi về hậu phương những thông điệp của họ, ở đó tôi vẫn thấy đầy ắp thủy chung bạn bè, chiến hữu, đồng đội, và ở đó tôi vẫn còn tìm được hơi ấm của tình người.

Tôi cũng cám ơn Phan Nhật Nam đã cố gắng giải thích cái lý do chúng ta thua trận, nhưng thực tình những điều mà ông cố gắng biện minh rằng một quân đội chiến đấu dũng mãnh như thế, một khối dân chúng chịu đựng gian truân của chiến tranh “lì” đến như thế mà miền Nam Việt Nam vẫn thất thủ chỉ trong vòng 55 ngày là ở những nguyên do ngoài trách nhiệm của những người lính. Tôi không tin như thế và cũng không thấy thuận lý lắm về cách giải thích này. Nó phải có nguyên nhân về phía những nhà lãnh đạo VNCH chứ không thể chỉ là những quyết định ở Paris, Washington DC, Moscow hay Bắc Kinh. Chỉ nội việc trong chúng ta đang đàm phán chính thức ở Paris thì Henry Kissinger lại mật đàm với Lê Đức Thọ ngay bên cạnh đó mà chúng ta vẫn im lặng, không có một phản ứng dữ dội nào như Hamid Karzai phản đối Mỹ mật đàm với Taliban một cách quyết liệt như mới đây đã cho thấy rằng cái lỗi của chúng ta là đã tim lặng và cả tin vào những nhà lãnh đạo thiếu bản lãnh và sự sáng suốt của VNCH.

Và theo tôi, giống như vấn đề mà Trần Vũ đặt ra trong cuộc phỏng vấn mà Phan Nhật Nam đã can đảm đăng tải nguyên văn trong hai tác phẩm nói trên, chúng ta vẫn chưa thể giải thích một cách thuận lý nguyên do chúng ta thua trận chỉ là do Mỹ bỏ rơi và những nguyên do ngoài trách nhiệm của người lính.

Vũ Ánh


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn