01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 7377)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17502)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5824)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5176)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5290)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Việt Nam Yêu Dấu

27 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 17072)
bia-viet_nam_yeu_dau-contentTác giả: Phạm Thu Dung
Giá bìa: $14.50
Amazon: $11.97

Lời giới thiệu

lê giang trần

Sau khi trang sử của cuộc chiến tranh Việt Nam khép lại ở ngày 30 tháng 4 năm 1975, những quyển hồi ký của những nhân vật thời cuộc của đất nước Việt Nam bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại sau một thời gian người Việt Nam tị nạn cộng sản có cuộc sống tạm ổn định. Tất cả những quyển sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam cho đến mốc ngày lịch sử 30-4-1975, hay viết về tù đày, cải tạo… dưới chế độ cộng sản trước hoặc sau 1975, hầu hết đều do quý ông, những tên tuổi, già dặn, viết ra. Cho mãi đến khi xuất hiện quyển truyện VIỆT NAM YÊU DẤU của “tác giả nữ” PHẠM THU DUNG mà đọc giả đang cầm trên tay.

Thật đặc biệt, quyển truyện này gần như là hồi ký kể lại cuộc đời của nhân vật chính, từ khi em sinh ra trong bom đạn chiến tranh tại miền Bắc Việt Nam nên em bị trúng miểng bom của Mỹ rải xuống; rồi cha mẹ em tìm cách dùng thuyền câu để mang con cái vượt qua dòng sông Bến Hải sang bên kia bờ tìm tự do và vì tương lai của các con. Họ đã may mắn thành công sang được bến bờ tự do, nhưng đứa con gái bị trúng miểng bom lại bất hạnh trở thành tàn tật suốt đời.

Đứa bé ấy là tác giả viết nên truyện VIỆT NAM YÊU DẤU.

Bằng lối văn trong sáng và cô đọng, tác giả thản nhiên diễn tả một cách linh động về gia đình của cô gồm cha mẹ cùng các anh chị em của mình, cho thấy tuổi thơ luôn hồn nhiên, luôn dâng tràn sức sống mãnh liệt của những bục măng non dưới tàng tre xanh che chở, luôn luôn yêu thương, tận tâm, giáo dục, lo tròn trách nhiệm của đôi vợ chồng có 7 người con. Có thể tác giả có chủ ý, hoặc sẽ còn viết tiếp sau quyển truyện này, cho thấy tác giả tránh đi tối đa những phát biểu của người lớn về chiến tranh, chỉ cụ thể vẽ thoáng cái hoàn cảnh con người đối diện với cuộc sinh tồn trong khi đất nước ngày càng bước đến

mức độ chiến tranh toàn diện trên khắp lãnh thổ.

Ngoài ra, tác giả cũng cho biết đã tự giới hạn mọi câu chuyện buồn đau, ngoại trừ bất đắc dĩ để cho trọn vẹn mảng chuyện kể đến.

Tuổi thơ trong truyện phải chấp nhận mọi thứ, mọi hoàn cảnh, vì chúng còn là trẻ con, trước nhất là LUẬT của người cha trong đường lối giáo dục của một thanh niên có học thức Âu Mỹ, bên cạnh là người mẹ được đi học đến trung học rồi bị nghỉ học vì là nữ nhi. Bảy người con của đôi vợ chồng này thật may mắn và hạnh phúc sống trong vòng tay yêu thương bảo bọc của bố mẹ như thế. Tuổi thơ của chúng được phát triển hồn nhiên, nhưng trong kỷ luật giáo dục nghiêm nhặt của cha mẹ. Sức sống hồn nhiên được tỉ mỉ kể lại, sự phát triển tự nhiên về nhân bản, tuổi thơ dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt thế nào, tuổi thơ vẫn là tuổi thơ.

Nhưng chính sự hồn nhiên và thơ ngây trong trắng của tuổi thơ, như là phản diện, một mặt trái, một sự thật, mà nhìn vào làm cho con người sẽ ngậm ngùi những cảnh sống trong hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh thì đương nhiên khốc liệt, ác độc, tàn nhẫn v.v.. nó không nhân nhượng cho bất cứ mạng sống nào, hoàn cảnh nào cả, nó cứ thản nhiên xảy ra, bất kể tạo nên chết chóc hay tàn phế hay hủy diệt, những gì nằm trên bước chân nó đi qua đều trở thành bất hạnh, nhận lấy cái hậu quả do nó gây ra. Tác giả đưa ra sự ngây thơ hồn nhiên của tuổi thơ như muốn đưa ra nỗi bất hạnh của con người trót sinh ra trong bầu trời khói lửa chiến chinh.

Tuổi thơ không làm được gì cả ngoài sự chấp nhận. Chấp nhận cha mẹ, chấp nhận côi cút, chấp nhận lên đường, chấp nhận hoàn cảnh sống, chấp nhận ngay cả tật nguyền, hay chết chóc trong chiến tranh, như hình ảnh của em Tép, em của Tôm, hai anh em ở giúp việc cho nhà họ Phạm, cố gắng sải tay chèo vượt qua sông Bến Hải, em Tép nhận chịu lằn đạn bắn theo, chỉ thốt lên một câu “em bị trúng đạn rồi anh Tôm ơi” và thân xác em rơi xuống dòng sông.

Tuổi thơ trong chiến tranh làm cho người tri thức, người trưởng thành hay người già nua cảm thấy bất nhẫn và đau lòng vì đó là thế hệ nối tiếp ông cha, là rường cột của quốc gia, là tương lai của đất nước.

Thế mà tuổi trẻ đó còn phải đương đầu trong một xã hội sau khi chấm dứt chiến tranh. Những thanh niên giã từ vũ khí ngậm ngùi cho thân phận còn sống sót của mình trước một tương lai mù mịt. Biết bao tuổi thơ có cha mẹ bị coi là tội đồ của chế độ, chịu bao thiệt thòi và nhục nhằn trong cuộc sống đổi mới, một đất nước vừa hòa bình chấm dứt chiến tranh.

Chúng ta có lẽ ai cũng biết cái xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã phải trải qua giai đoạn gọi là “thời kỳ quá độ” một cách khắc nghiệt và tàn nhẫn như thế nào.

Tác giả ngừng lại, đóng lại quyển truyện khi nhân vật chính vừa đến tuổi 13, ở độ tuổi của một cô gái chưa đến giai đoạn biến đổi sinh lý cơ thể, và nếu dù là một cậu trai, cũng chưa có thể có được tư duy nào về chiến tranh để có thể phát biểu ra những ý nghĩ về chúng. Tuy nhiên, tuổi thơ vẫn có những ấn tượng về chiến tranh qua cuộc sống bằng trí óc non dại của chúng, những ấn tượng không nhiều thì ít, cho chúng mường tượng có nhiều đau khổ, đau buồn đã xảy ra bởi chiến tranh. Một nỗi sợ hãi ám ảnh vô hình mà trẻ con không biết làm sao.

Trẻ con tùy thuộc vào cha mẹ, vào định mệnh, vào cộng nghiệp với những con người tạo nên chiến tranh, và, chúng hoàn toàn bất lực trước những thứ khó hiểu như thế.

Sự dừng bút kể truyện của cô bé 13 tuổi giống như một sự bất lực trước định mệnh của mình, của cha mẹ, của đất nước, của những người lớn hay xóm giềng chung quanh mà chúng biết. Không biết rồi cái gọi là định mệnh ấy sẽ đi về đâu? Cuối cùng, cũng tùy thuộc vào người lớn, chúng giống như ngọn sóng nhỏ bị ngọn sóng lớn lùa đi. Phương trời trước mắt thật là vô định với chúng. Tất cả do người lớn, người lớn quyết định, trách

nhiệm những gì họ làm, chúng nào khác cái danh từ gọi là “nạn nhân”, hoàn toàn lệ thuộc và tùy thuộc. Cho nên, khi chúng lớn lên, trưởng thành, nếu không may tuổi thơ chúng bị xô đẩy vào một hoàn cảnh kiếp đời khốn khổ, thì lời than oán của chúng không phải là vô nghĩa.

Tuổi thơ không biết oán trách, chỉ biết tuân phục. Sự hồn nhiên tuân phục ấy, đồng thời sự hồn nhiên của sức sống ấy, có bao giờ làm cho những ai từng góp phần trong chiến tranh, sẽ bùi ngùi, cảm thấy ray rứt khi quyển truyện VIỆT NAM YÊU DẤU khép lại ở trang cuối cùng?

Nếu lương tâm cảm thấy xót xa cho tuổi trẻ thơ, thì con người ít nhất trong cuộc sống hiện tại đừng bao giờ tiếp tục tạo nên đau khổ cho tuổi thơ.

Có phải đó là lời nhắn gởi của tác giả Phạm Thu Dung chăng?

lê giang trần

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 18779)
“Đây là Kiều! Em gái miền Tây của em.” Tuấn hài hước giới thiệu. Kiều! Lại một lần nữa anh bàng hoàng. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên lạ lùng. Người con gái ấy, người con gái ba mươi năm ám ảnh anh bằng hình dáng đó cũng tên Kiều. Anh hỏi, giọng hơi run: “Em là… gì Kiều?.” Cô gái cười tươi: “Dạ Ngọc Kiều.” Anh thở ra, giờ thì không có sự trùng hợp nữa, vì ngày xưa, cô tên là Thục Kiều!
03 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 18547)
Cuốn sách này được viết ra để thay mặt cho các bé thơ vô tội (những thiên thần thực sự) bị bọn buôn người đày đọa, không nói lên được tiếng nói uất hận trong các địa ngục trần gian.
03 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 18382)
Có thể tính thời gian trong truyện đậm chất hoài niệm, nhưng không gian truyện lại vô cùng gần gũi như chính bản chất của đô thị Sài Gòn, đô thị được người lưu dân bình dân đặt vào ngực để mãi được nhận và trao truyền trái tim Sài Gòn bao dung.
03 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 19138)
Gồm những câu chuyện tác giả nghe ra, chứng kiến, sống cùng... suốt chặng đường khổ nạn với mỗi phận người Việt Nam trên hành trình xuyên nước Mỹ, khắp các châu lục, nơi quê nhà. Câu chuyện về Nỗi Đau chưa hề đứt đoạn kể từ sau 1975.
03 Tháng Hai 201512:00 SA(Xem: 5556)
Tường trình về quá trình Sống/Chiến Đấu/Và Chết theo cùng mệnh nước nổi trôi của nhiều thế hệ người Việt trong giai đoạn khốc liệt 1945-1975.