01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 7350)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17472)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5816)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5166)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5281)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Kinh tế mới: một sản phẩm tồi tệ của “Bên Thắng Cuộc”

23 Tháng Giêng 201312:00 SA(Xem: 27859)
Năm 1989, khi tôi trở về từ nhà tù Cộng sản thì thành phố Saigon đã tràn ngập những người dân từ vùng kinh tế mới trốn về. Họ không còn nhà cửa và cũng chẳng còn hộ khẩu nên phải sống lang thang ngoài đường phố. Công an thành phố đã được lệnh “hốt” nhiều người như vậy để chở về trả lại cho vùng kinh tế mới, nhưng sau đó họ lại lần mò tìm cách về lại Saigon cũng như các thành phố khác. Cuối cùng vào cuối năm 1989, nhà cầm quyền cũng đành chịu thua.

Những người từ vùng kinh tế mới trốn về thành phố trở thành những người vô gia cư, ban ngày tìm những công việc chân tay tạm bợ kiếm ăn qua ngày và tối tập trung ở chung quanh các khu chợ xa trung tâm Saigon và đông nhất là khu Lăng Ông, Chợ Bà Chiểu, nhà ga xe lửa cũ Saigon trên đường Phạm Ngũ Lão, khu vực quanh trường đua Phú Thọ. Nhưng đó mới chỉ là những khu vực tôi biết mà thôi. Khi mới đi tù cải tạo trở về, nếu không có thân nhân từ nước ngoài gởi giúp tiền hay quà cáp thì, để mưu sinh, nghề duy nhất mà những người như chúng tôi có thể làm là đi làm mướn, bán sức lao động lấy bát cơm: Cưa ván sàn, bốc vác, quét dọn, phụ hồ, lấy rác, đạp xích lô, thông cống rãnh. Nghề bán mồ hôi “sang trọng” nhất lúc bấy giờ đối với những người tù cải tạo được “thả” rồi mà vẫn còn bị quản chế là cưa ván sàn bởi vì cưa ván sàn được gọi là “thợ” còn những lao động còn lại đều xếp vào loại “phu” hết. Nhưng dù là thợ hay phu thì cũng phải làm mửa mật mới có bát cơm, vì thế cuối cùng tôi chọn “phu” để tự do hơn sau khi đã thử làm thợ. Những người đồng hương của tôi từ vùng kinh tế mới trở về sống còn thấp dưới mức sống của chúng tôi. Nhà cửa thì bị nhà cầm quyền lấy mất rồi, hộ khẩu thì không, mà sống ở vùng kinh tế mới không được nhà cấm quyền giúp đỡ, không cách nào mưu sinh nổi, đành quay lại Saigon và các tỉnh, tá túc nơi những người thân hay tại những “khách sạn ngàn sao” tức “Hotel de La Hiên” ở quanh các khu chợ, quanh các khu lăng tẩm hay trong nghĩa địa, rồi hàng ngày chia nhau đi kiếm công việc độ nhật. Điều này còn có nghĩa là những người bị đẩy vào các trại tập trung cải tạo như chúng tôi ở những nhà tù “đóng” trong rừng xanh núi đỏ thì người dân đi kinh tế mới phải ở trong những nhà tù “mở” thiết lập tại những nơi đất đai khô cằn, cày lên sỏi đá, không phương tiện canh tác, đau ốm không có thuốc men, chửa đẻ không có trạm xá hay có trạm xá thì cũng ở cách xa hàng chục cây số, sản phụ hay người bệnh được chuyển bằng cáng từ khu kinh tế mới đến nơi có phương tiện chữa trị.

Sống lăn chai với những đồng hương kém may mắn như thế từ vùng kinh tế mới trở về, tôi có dịp nghe lại những thảm kịch mà họ kể lại khi bị đẩy lên vùng kinh tế mới. Những câu chuyện hoàn toàn ngược lại với nhóm từ đầy hứa hẹn một ngày mai tươi sáng của chính quyền là “đi kinh tế mới”. Một người bạn tù từng chung số phận với tôi tại trại B-5 Tân Hiệp Biên Hòa đã kể chuyện về trường họp gia đình anh, một câu chuyện đầy nước mắt liên quan đến vùng kinh tế mới khi tôi gặp lại anh hồi tháng 2 năm 1989. Anh nói:

“Từ B-5 Tân Hiệp tôi bị đưa về nhốt tại Chí Hòa cuối năm 1976 và năm 1977 bị đưa ra Nam Hà (Bắc Việt). Thời gian tôi bị lưu đầy ở ngoài Bắc, gia đình tôi ở Saigon bị mấy ông bà trong Mặt Trận Tổ Quốc đến dỗ ngon dỗ ngọt là nếu chịu đi vùng kinh tế mới ở Bù Gia Mập thì chồng sẽ được về sớm. Ngu ngơ và vừa bị áp lực, vừa bị dụ dỗ nhà tôi mang con đi theo người ta lên vùng kinh tế mới ở Bù Gia Mập (tỉnh Phước Long), cố mưu sinh với sự giúp đỡ của gia đình cô ấy từ Saigon để chờ ngày tôi về. Một năm sau khi lên lập nghiệp ở vùng kinh tế mới, mấy người hàng xóm đi lượm đầu đạn và bom chưa nổ về cưa để lấy thuốc đạn và bán phế liệu do làm ăn vụng về liều lĩnh khiến khi cưa một trái bom 750 pounds câm, nó phát nổ. Vợ và đứa con trai ba tuổi đang ngồi hóng mát ở sân gân chỗ cưa com đạn chết lây cùng với 3 người cưa bom. Hai lần gia đình tôi từ trong Nam ra thăm nuôi tôi ở trại Nam Hàn đều giữ kín chuyện này cứ nói vợ tôi ở Bù Gia Mập đường xá xa xôi lại con nhỏ nên không ra thăm được. Cho đến năm 1982, tôi được thả về thì mới vỡ lẽ”.

H. kể lại chuyện gia đình với cái giọng vẫn còn đầy nước mắt. Anh nói với tôi trước khi chia tay: “Ở cái đất nước này mình không thể lương thiện và hiền được ông ạ”. Tôi không gặp lại người bạn tù đau khổ này nữa cho đến khi tôi rời Việt Nam sang định cư ở Hoa Kỳ năm 1992. Năm 2001, một người bạn tôi về Việt Nam cư tang ông bố khi về Mỹ gặp tôi cho biết tin về H. “Mày chỉ cần biết là nó không còn hiền như lời nó nói với mày. Hắn đã là thủ lãnh một băng nhóm ở Chợ Lớn”. Mười hai năm qua, tôi không còn nghe nói gì về H. nữa và tôi cũng không còn muốn tìm hiểu về cuộc đời tiếp nối của người bạn tù này. Anh đã có một đời sống ở một thế giới riêng phù hợp suy nghĩ của anh. Tôi kể ra câu chuyện điển hình chỉ để gợi lại một chút hình ảnh trong hàng trăm câu chuyện của thảm họa “đi kinh tế mới” mà người Cộng sản chủ trương sau khi chiếm được Miền Nam Việt Nam.

Tư sản mại bản, tư sảntư sản dân tộc là những định nghĩa khác nhau của người Cộng Sản về nguồn gốc của tài sản mà một người giầu có trong chế độ cũ thời Cộng Hòa thủ hữu. Nhưng hiểm họa là ở chỗ nhà cầm quyền Cộng sản định nghĩa tư sản mà lại không ấn định mức giầu có như thế nào thì được gọi hay bị gọi là tư sản? Tôi gọi đó là hiểm họa bởi vì những nhà tư sản trở thành mục tiêu hàng đầu để họ bị đuổi ra khỏi thành phố về những vùng kinh tế mới. Trong suốt 37 năm qua, người ta ít tìm được những tài liệu liên quan đến chuyện đánh tư sản và đặc biệt tại hải ngoại cũng chưa có một tác giả nào viết thấu đáo về đề tài này. Kinh tế mới cuối cùng chỉ là những câu chuyện tản mạn, truyền tai nhau chứ không có một cuộc nghiên cứu nào sâu sắc.

Người Miền Nam Việt Nam là nạn nhân của chính sách kinh tế mới mà nhà cầm quyền Cộng sản chủ trương sau khi chiếm được vùng đất phía Nam thuộc quyền quản trị của VNCH, nhưng chủ trương của bên thắng cuộc như thế nào? Thực ra trong cuốn “Bên Thắng Cuộc”, chính sách kinh tế mới chỉ là một tiểu mục bao gồm 4 trang từ trang 94 đến trang 98, nghĩa là đoạn cuối của chương III. Nhưng ít ra tác giả Huy Đức cũng cho thấy một vài nét căn bản chủ trương của chính sách kinh tế mới của phía thắng trận. Ở trang 94, Huy Đức viết, xin trích:

“Không chỉ bị tước đoạt tài sản, các nhà tư sản còn bị buộc phải rời thành phố, cho dù cũng như nhiều chính sách làm xáo trộn xã hội lúc bấy giờ, chủ trương đưa các nhà tư sản đi kinh tế mới cũng không được công bố một cách công khai, minh bạch. Ngày 10-4-1978, trên báo Saigon Giải Phóng xuất hiện một bài báo dưới dạng hỏi-đáp kiểu như một tài liệu được soạn sẵn rồi đem phát cho các cơ quan báo chí. Tính cưỡng bách của chính sách này thể hiện rất là mạnh mẽ”.

Các nhà tư sản thương nghiệp bị cáo buộc như ra sao? Huy Đức đã cho thấy cái “ác” và sự “trả thù” đã thể hiện đằng sau những lời lẽ tựa như phán quyết của kẻ thắng khi họ đồng hóa những nhà tư sản mại bản giầu có đế vương nhờ lợi dụng chiến tranh, mua chuộc nhà cầm quyền, đầu cơ tích trữ, tạo khăn hiếm giả tạo để tăng giá hàng, lũng đoạn kinh tế Miền Nam Việt Nam với những tư sản thương nghiệp, vốn là là những người có được bát ăn bát để nhờ vào trí óc và sức lao động cần mẫn của mình. Tác giả trích dẫn bài báo nói trên với rất nhiều hàm ý, xin trích:

“Các nhà tư sản thương nghiệp bị phê phán là chỉ biết làm giầu, ăn chơi phè phỡn, bóc lột người lao động và ăn cắp của nhà nước, coi khinh lao động và nói xấu chế độ, trong khi ba năm qua (1975-1978) trên 700,000 nhân dân lao động hồi hương lập nghiệp. Về những tội lỗi đó, nhân dân lao động và chính quyền cách mạng đã không bắn giết, không bắt giam, không đầy ải, không đấu tố, không tịch thu, mặc dù có đầy đủ sức mạnh và lý lẽ để làm như vậy. Nhân dân lao động và chính quyền chỉ muốn họ chấm dứt hành vi đó, chấm dứt triệt để và vĩnh viễn. Không những các nhà tư sản thương nghiệp phải chuyển sang sản xuất nông nghiệp, nghề cá, nghề rừng phải chuyển về các tỉnh mà cả sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng chuyển về các tỉnh theo sự bố trí màng lưới công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở địa phương”.

Trong tình hình một số người chủ trương biểu tình chống cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức và ngay cả những thành viên trong ban tổ chức biểu tình như các ông Phan Kỳ Nhơn, chủ tịch cộng đồng Nguyễn Xuân Nghĩa cũng chưa đọc cuốn tài liệu này, tôi phải nhấn mạnh một lần nữa những đoạn trích dẫn trên không phải là lời lẽ của Huy Đức mà là của nhà cầm quyền Việt Nam Cộng sản vào giai đoạn 1975-1978 để cho độc giả tránh những ngộ nhận. Kết luận sẽ không chỉ thuần dựa vào tác giả mà phần lớn phải dựa vào độc giả và đối với những người nào muốn chống Cộng trên mặt trận tư tưởng thì đây là một dịp tốt để xử dụng những tài liệu trong cuốn sách này để viết lại một cuốn khác thật chi tiết về “bên thua cuộc”. Sự mù quáng của một đảng Cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp đã từng nhận chìm nhân dân Miền Bắc vào lầm than đói khổ trong nhiều thập niên. Đến khi chiếm được Miền Nam, họ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù của giai cấp, nhất là khi tiếp quản một Miền Nam khác hẳn những gì mà các nhà tuyên truyền Cộng sản nói với nhân dân Miền Bắc. Do đó, họ không thể để các cơ cấu thương nghiệp ở VNCH y như nguyên trạng bởi vì như thế nó sẽ làm rõ hơn cái tính chất thất bại của hợp tác xã và cơ sở thương mại quốc doanh mà người Cộng sản chủ trương.

Trong cái thế thắng trận, ngay cả những nhân vật lãnh đạo trong cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình Thảo vốn là con đẻ của tư sản Miền Nam chứ không phải là tiểu tư sản cũng không dám hó hé gì về sự thất bại của hầu hết các chính sách mới. Họ giữ mối u uẩn và sự xấu hổ xuống tuyền đài khi bỏ theo làm con cờ cho Cộng sản Hà Nội. Cái bài học về sự “lỡ dại” của họ ngày nay được phản ảnh qua thái độ và lời nói của lớp đàn em hay con cháu như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Lê Hiếu Đằng trong những dịp biểu tình, chỉ để chống Trung Quốc thôi, mà vẫn bị cái chính quyền Cộng sản, do họ góp tay tạo nên ở Miền Nam, đàn áp không nương tay.

Những người theo Cộng sản mù quáng đối với chính sách kinh tế mới và cải tạo công thương nghiệp của nhà cầm quyền Cộng sản thì đã đành rồi, nhưng có nhiều nhân vật thuộc vào hàng nhân sĩ của VNCH còn đầy đủ hai con mắt nhưng coi như chúng đã bị chọc thủng. Đó là trường hợp bác sĩ Lê Cửu Trường. Vị bác sĩ này đã từng nắm những chức vụ rất lớn trong ngành y tế VNCH. Trong nhiều năm dưới thời Bộ Trưởng Y Tế Trần Đình Đệ thời Ngô Đình Diệm, ông giữ chức Tổng Giám Đốc Y Tế và Bệnh Viện thuộc Bộ Y Tế, một chức vụ có ảnh hưởng đến chính sách và việc quản trị của tất cả những bệnh viện, bệnh xá trên toàn quốc VNCH từ vĩ tuyến 17 vào đến mũi Cà Mâu. Ông lại là một tư sản thứ thiệt đứng đằng sau những dịch vụ kinh doanh y tế và âu dược tư nhân tại Saigon. Theo lời Huy Đức, hai ngày ngày sau khi báo Đảng đăng bài báo “hỏi-đáp” nói trên, một cuộc “hội thảo” kéo dài 2 ngày, 12 và 13 tháng 4 năm 1978, với sự tham dự của hơn 200 trí thức đã được chính quyền tổ chức. Phát biểu trong hội thảo, Bác sĩ Lê Cửu Trường nói:

“Lề lối kinh doanh tư bản chủ nghĩa không thể tiếp tục kéo dài trong một xã hội đang tiến lên con đường xóa bỏ chế độ người bóc lột người”.

Không phải chỉ có bác sĩ Lê Cửu Trường nói như vậy. Một nhân vật khác được giới thiệu Phương Kiến Khánh, một tư sản gốc Hoa đang phục vụ trong Phân Viện Nghệ Thuật cũng nhắc lại chủ trương đẩy các nhà tư sản thương nghiệp sang sản xuất như sau:

“Chuyển các nhà tư sản thương nghiệp sang sản xuất là trả họ về với thiên chức con người, là giải phóng họ khỏi kiếp ăn bám bóc lột”.

Toàn là những lời lẽ hoa mỹ để che giấu một dã tâm của những người cầm chịch ở phía thắng trận! Tôi nói tới những người Cộng sản cầm chịch trong chiến thắng 30-4-1975 bởi vì không chỉ những tư sản thương nghiệp Miền Nam mà cả những tư sản thương nghiệp Miền Bắc từng giúp cho phong trào Việt Minh và sau đó là cho những người Cộng sản trong phong trào này trong suốt cuộc chiến Việt Pháp cũng đã là nạn nhân của đấu tố ruộng đất trước và sau năm 1954, cũng như đã là nạn nhân của cải tạo công thương nghiệp sau khi Cộng sản Việt Nam lấy lại được một nửa đất nước từ tay người Pháp. Để có thể đan cử những điển hình phù hợp với so sánh trên, tác giả Huy Đức của “Bên Thắng Cuộc” đã viện dẫn:

“Khi ông Đỗ Hoàng Hải mới về (địa chỉ) 14 đường Cách Mạng Tháng 8 để chuẩn bị cải tạo tư sản thương nghiệp thì ông Trần Văn Đước, một cơ sở đã từng nuôi giấu và cứu ông Hải trong trận Mậu Thân năm 1968, ngày nào cũng nấu cơm rồi cho người mang sang. Cũng như trong chiến tranh, ông Đước không biết rõ ông Hải làm gì, chỉ giúp đỡ vì biết ông Hải là người bên cách mạng. Nhưng khi ông Đước chạy đến báo cho ông Hải biết ông bị người ta mang xe đến chở hết kiếng đi rồi, ông Hải vẫn tưởng rằng chắc có lầm lẫn. (Nhưng đó là sự thực, có nuôi giấu, cứu cán bộ đến mấy thì cũng vẫn trở thành nạn nhân của cải tạo công thương nghiệp như thường-TGST). Nguyên con trai ông Trần Văn Đước là liệt sĩ. Tiệm kiếng của ông mở tại nhà riêng số 12 Ngô Tùng Châu chỉ là một ngôi nhà cấp 4, chiều ngang 4 mét, chiều dài 12 mét, tường gạch lợp ngói. Nhưng ông Đước vẫn bị qui vào diện tư sản thương nghiệp, kiếng hàng hóa và nhà riêng của ông đều bị sung công”.

Dĩ nhiên không chỉ có trường hợp của ông Đước. Theo Huy Đức, năm 1957 ông Lai Thanh đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng lái xe đưa ông Lê Duẩn (sau làm tới Tổng Bí Thư đảng CSVN) thoát sang Phnom Penh trong sự truy lùng gắt gao của chính quyền Saigon lúc ấy. Năm 1978 khi ông Lê Duẩn đưa ông Đỗ Mười vào Nam, nhà máy xay lúa của ông Lai Thanh đã bị sung công. Con gái ông là bà Lai Kim Dung, một tư sản người Hoa cũng bị xếp vào thành phần cải tạo công thương nghiệp tư doanh. Chỉ đọc hai trường hợp điển hình của những thành phần “có công với cách mạng” vừa kể người ta có thể hiểu còn có hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người ở miền Nam Việt Nam vốn chỉ được xếp vào hàng buôn bán nhỏ hay buôn bán hạng trung dưới thời VNCH đã bị “nâng quan điểm” để bị trở thành tư sản thương nghiệp dưới chính quyền Cộng sản. Thời gian trôi qua khá lâu và nếu như không có những dữ kiện được nhắc nhở, có lẽ những hình ảnh về thảm kịch này đã chìm sâu trong trí nhớ nhạt nhòa của những người Việt Nam ở cả Bắc cũng như Miền Nam đang phải sống nhếch nhác trong các khu vực tư được lập lại sau khi tất cả các chính sách cải tạo tư sản thương nghiệp, kinh tế mới và hợp tác xã thất bại ê chề vào năm 1986. Nhà cầm quyền Việt Nam Cộng sản đã phải “đổi mới tư duy” và và khởi sự nhận chìm chính sách bao cấp và nền kinh tế bế quan tỏa cảng vào năm 1987. Hà Nội rõ ràng đã tự cải tạo mình để thoát chết bằng chính sách mở cửa với thế giới bên ngoài, tái tạo khu vực thương nghiệp và sản xuất tư doanh, lập doanh nghiệp liên doanh, bỏ một phần khu vực quốc doanh và mặc nhiên họ đã tạo ra một giới giầu có mới được gọi là tư bản đỏ, một giới bóc lột và lũng đoạn còn kinh hoàng hơn cả những tư sản mại bản gốc Hoa hàng đầu thời VNCH.

Trong tài liệu mà Huy Đức ghi lại trong “Bên Thắng Cuộc”, tôi chú ý tới một thống kê được tổng kết sau chiến dịch đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh và chính sách kinh tế mới, xin trích:

“Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở Miền Nam tiến hành từ sau năm 1975 đã cải tạo được 3,560 cơ sở tư bản tư doanh công nghiệp, trong đó có 1,354 cơ sở của tư sản mại bản được công hữu hóa và tịch thu, 498 cơ sở bị chuyển thành công tư hợp doanh, chuyển 5,000 tư sản thương nghiệp sang sản xuất, chuyển 9,000 tiểu thương sang sản xuất, sử dụng 15,000 người vào mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Sau cải tạo, dưới dạng kinh tế quốc doanh và công tư hợp doanh, Nhà Nước nắm: 100% ngành năng lượng, 45% ngành cơ khí, 45% ngành xay xát lương thực, 100% ngành bia, nước ngọt, bột ngọt, thuốc lá, 45% ngành chế biến đường, dầu thực vật, 60% ngành dệt, 100% ngành sản xuất giấy, 80% ngành sản xuất bột giặt, xà bông. Thương nghiệp quốc doanh nắm 80% nguồn hàng công nghiệp, 92% số xã trên toàn Miền Nam có hợp tác xã mua bán”.

Thống kê của nhà nước Việt Nam thường hay tạo cho dư luận sự hoài nghi về mức độ đúng đắn của nó. Nhưng cứ giả thử thống kê này khớp với sự thật đi nữa, vẫn có một câu hỏi lớn được đặt ra. Đó là: Nếu khu vực công của nhà nước tập trung trong tay mình cái lợi thế “ưu việt” của kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa như thế thì tại sao lại phải xóa bỏ chúng sau năm 1994 là năm mà Hoa Kỳ bắt đầu cởi bỏ cấm vận và sau đó là lập lại quan hệ bình thường với Việt Nam? Doanh nghiệp quốc doanh ngày nay còn giữ một vài hoạt động mang tính chiến lược, nhưng làm ăn kinh tế khấm khá phần lớn dựa vào sản xuất và thương nghiệp tư doanh hay liên doanh. Còn quốc doanh càng ngày càng chứng tỏ rằng họ làm ăn lụn bại, đầy tệ nạn và vô trách nhiệm, trong đó điển hình nhất là vụ thua lỗ của Vinashin mới đây. Đó là cách nhìn tổng quát của tôi đối với những trích dẫn trong “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức. Bây giờ đến lượt chính tác giả nhìn vào những tài liệu ấy:

“Trước khi cải tạo công thương nghiệp tư doanh, nhà nước đã tìm mọi cách để tập trung mọi nguồn hàng vào tay mình. Không chỉ có sản phẩm của các xí nghiệp quốc doanh phải tiêu thụ hàng qua thương nghiệp của nhà nước, các xí nghiệp tư bản, các hợp tác xã, các tập đoàn và cơ sở sản xuất thủ công, cá thể được nhà nước cung cấp lương thực, máy móc thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, điện, cho vay vốn...(cũng) phải bán sản phẩm cho thương nghiệp quốc doanh. Chính quyền tin rằng ngành thương nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa là cơ quan hậu cần của toàn dân, là người nội trợ của toàn xã hội. Nhưng chẳng bao lâu sau, niềm tin này đã mau chóng tan thành mây khói”.

Một tiết lộ trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” đã chứng minh cái được gọi là niềm tin mà Huy Đức đề cập thực ra chỉ là những tranh cãi giữa các nhận vật Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, nhân vật đang nắm trong tay “thượng phương bảo kiếm” và chủ trương cực đoan. Vũ Đình Liệu thừa nhận: “Họp thường vụ chúng tôi cũng có ý kiến, đi cơ sở về chúng tôi cũng có ý kiến, nhưng bị bên anh Đỗ Mười cự”, trong khi Võ Văn Kiệt cho biết trong cuộc phỏng vấn của Huy Đức thực hiện ngày 4 tháng 12 năm 2004 như sau:

“Lúc đầu, tôi nhận thức, cải tạo là chuyện tất yếu và coi đó là con đường để đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Cho tới lúc ấy, tôi chỉ đi các nước Đông Âu, thấy cuộc sống của họ so với mình đã là những gì mình mơ ước. Tôi nghĩ phải kinh qua những bước như mình bấy giờ (1978) mới đạt được những gì họ có”.

Sau trích dẫn nói trên, Huy Đức đã bộc lộ cách nhìn của anh đối với chính sách cải tạo thương nghiệp tư doanh và kinh tế mới:

“Nhưng rồi khi nhìn cả thành phố vốn là một trung tâm thương mại trở nên tiêu điều, tan hoang, nhất là khi nhìn thấy những ân nhân của cách mạng cũng trở thành những nạn nhân, những người (Cộng sản) đã từng bám trụ ở Miền Nam, ở Saigon đã bắt đầu nhìn lại những gì mình đang thực hiện.”

Trong suốt 3 bài Sổ Tay kể cả bài này, tôi đã đọc cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức và trích ra từng phần quan trọng để giúp qúi vị nào chưa đọc cuốn sách mà đã chống tác giả nên xét lại những suy nghĩ của mình. Ở xứ tự do này, ai cũng phải tôn trọng quyền biểu tình của bất cứ công dân Mỹ nào, nhưng nếu chưa đọc sách của người ta mà đã biểu tình chống thì tôi e rằng hành động và thái độ đó còn thua xa mấy ông “xẩm sờ voi”.

Bài tường thuật của Ngọc Lan trên Nhật báo Người Việt cho thấy phần đông những người biểu tình chống cuốn “Bên Thắng Cuộc” khi được phỏng vấn trong cuộc biểu tình đều xác nhận mình chưa đọc tài liệu này. Tôi không ngạc nhiên khi đọc bản tin trên, bởi vì ngay cả ban tổ chức biểu tình là ông Phan Kỳ Nhơn và Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa trước ngày biểu tình cũng đã trả lời một cuộc phỏng vấn và xác nhận rằng họ đều chưa đọc “Bên Thắng Cuộc”, nhưng vẫn cứ biểu tình chỉ vì một duyên cớ thiển cận: Huy Đức là Cộng sản mà được viết cuốn sách như thế tất phải nhận lệnh của đảng và chính phủ Cộng sản.

Những lời cáo buộc này đã dẫn ban tổ chức đến một cái bẫy tự họ đặt ra và tự chui đầu vào. Ngày nay, nhiều người Mỹ gốc Việt gồm cả trẻ lẫn già đã về Việt Nam cưới vợ và ngay cả một ông trong ban trong ban tổ chức biểu tình cũng về lấy vợ Hải Phòng thì có phải nhận lệnh của đảng và chính phủ Cộng sản không? Hơn nữa giữa lúc nhà cầm quyền CSVN đang hết sức đàn áp thô bạo báo chí và những bloggers lề trái ở Việt Nam mà một thiểu số nhà hoạt động chống Cộng ở đây lại bắt chước y như họ thì còn ra cái thể thống gì nữa? Đã đến lúc nhóm người này nên chấm dứt trò “bully” đối với báo chí và truyền thông ở đây, vì trò này rất nhỏ mọn và mang nhiều nghịch lý làm hoen ố quyền tự do ngôn luận trong cộng đồng Việt Nam ở một xứ tự do như Hoa Kỳ.

Vũ Ánh

 

(Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn