01 Tháng Mười Hai 20152:57 CH(Xem: 7350)
(Cảm nhận của Trịnh Y Thư nhân đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc). Đọc tập truyện “Gió mỗi ngày một chiều thổi” (Sống xuất bản, 2015) của nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng Bắc, bạn đừng chờ đợi một câu chuyện với tình tiết lâm li, éo le, gay cấn hoặc có hậu; thậm chí, một câu chuyện có đầu có đuôi cũng chẳng có cho bạn nhẩn nha đọc những khi nhàn tản. Cũng chẳng có bao nhiêu bài học luân lí ở đây, một mẫu mực đạo đức lại càng hiếm hoi.
22 Tháng Mười 20154:35 CH(Xem: 17472)
A fragmentary novel You may be disturbed by fabulous stories and discrete patches of fates which are like a melancholy dream you could hardly recount fully after waking up.
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5816)
Đây là cuốn hồi ký mà cũng là sử liệu đáng quý từ một sử gia chân thật, và một chính trị gia bất đắc dĩ, về một giai đoạn nhiễu nhương và bi thương của đất nước. Trần Trọng Kim kể lại mọi sự một cách chân phương với văn phong đơn giản súc tích cố hữu. Nhưng cũng có sự phê phán đĩnh đạc về thái độ của người Nhật, người Pháp, về tư cách và khả năng của nhiều nhân vật nổi tiếng thời đó, từ Hoàng đế Bảo Đại cho tới các lãnh tụ phe quốc gia và những kẻ trở cờ ở giữa. Lời phê phán xác đáng nhất, mang tính chất tiên tri và có giá trị cho đến ngày nay, được Trần Trọng Kim giành cho người cộng sản. Cho cái tội cõng rắn cắn gà nhà...
07 Tháng Sáu 201512:00 SA(Xem: 5166)
Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo.
26 Tháng Ba 201512:00 SA(Xem: 5281)
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng, đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang Chính Tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.

Chuyện gây “sốc” đầu năm Quí Tỵ trong cộng đồng người Việt

13 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 20643)
Chuyện “sốc” đầu tiên là chuyện ông giáo sư người Mỹ Joel Brinkley của trường đại học rất nổi tiếng là trường Đại học Stanford ‘chê’ thói quen ăn uống của người Việt Nam làm chết hết động vật. Trong đoạn mở đầu cùa bài viết của Joel Brinkley có câu: “Chẳng cần ở Việt Nam lâu bạn cũng có thể nhận thấy một điều bất thường. Bạn không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy sóc leo trèo trên cây hay chuột chui rúc trong các đống rác. Không thấy chó ở ngoài đường."

Ý kiến của tôi: Câu này của giáo sư Joel Brinkley thiếu những yếu tố của mẩu tin thuyết phục được người đọc, dù trước đây ông có làm cho tờ New York Times, một nhật báo có uy tín ở Mỹ một thời gian. Nhưng tôi thấy bây giờ ông Joel Brinkley đã làm giáo sư đại học chứ nếu ông còn làm phóng viên, chắc người chủ bút đành phải bỏ câu này hay kêu ông lại mà hỏi dù ông đã là người lãnh giải Pulitzer. Tôi tưởng tượng ra là người chủ bút sẽ hỏi: “Này ông bạn ông không nghe thấy chim hót, sóc leo trèo trên cây hay chuột chui rúc trong đống rác ở đâu, địa phương nào, không lẽ ở trên khắp nước Việt Nam?”.

Cá nhân, nếu được gặp ông, tôi cũng sẽ nói cho ông biết một người dốt nát, nhà quê sang ở đất nước này chưa gột hết phèn ở chân như tôi mà còn cũng hiểu rằng không thấy chó chạy ngoài đường mà vội kết luận người Việt Nam bắt chó ăn hết cả rồi là sơ khoáng một cách quá đáng. Bộ phận người Việt Nam ăn thịt chó thực ra cũng quá nhỏ so với dân số. Ông Brinkley cần có một cuộc thăm dò và ước lượng tương đối về số người ăn thịt cho ở Việt Nam trước khi ông viết những điều này ra cho cả thế giới biết. Viết một bài báo dạy dỗ cho một dân tộc nhất thiết là cần những con số hay bằng chứng cụ thể. Bởi viết sai hay sơ khoáng trong lý luận sẽ gây “sốc”. Chẳng hạn như ông hạ bút: “Không thấy... chuột chui rúc trong đống rác”. Nếu tôi là người có trách nhiệm sửa bài của Joel Brinkley, tôi sẽ phải gọi cho ông và hỏi: “Ông có chắc điều này không, ông ngồi quan sát ở những đống rác hay ông chỉ đoán”. Và nếu cho rằng ở một đất nước mà chuột không còn chui rúc trong đống rác là môi trường tốt hơn cả nước Mỹ này rồi, còn kêu ca gì nữa? Hay ông nói rằng chuột không còn chui rúc trong đống rác là vì “người Việt Nam hung hãn bắt ăn hết?”. Một bộ phận rất nhỏ nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long có tập quán săn chuột đồng vào mùa gặt lúa. Có người ăn thịt chúng, nhiều người không. Tuy nhiên, mục đích bẫy chuột là để diệt trừ cho tận gốc vì giống chuột này phá hại một lượng lúa đáng kể. Hiện tượng này cũng chẳng khác gì ở nước Úc hàng năm chính phủ phải cho giết bớt một số kangooru vì giống đại thử này sinh sôi nẩy nở rất nhanh và cũng phá hoại mùa màng và môi sinh cũng kinh hồn lắm. Người Úc có người ăn thịt kangooru, nhiều người không. Cho nên diệt chuột, diệt kangooru cũng chỉ là hiện tượng do nhu cầu bảo vệ mùa màng và môi trường chứ không phải là nông dân Việt Nam hay Úc có thói quen ăn thịt nên hung hãn mà triệt hạ chúng để có thịt ăn.

Là giáo sư dạy về môi trường ở một đại học danh tiếng như trường Stanford chắc giáo sư Joel Brinkley sẽ vả vào miệng những anh nhà báo nước ngoài nào đến Hoa Kỳ không thấy chuột, không thấy gián đã vội cho rằng người Mỹ đã ăn hết cả chuột, cả gián do thói quen ăn thịt của họ! Điều làm tôi ngạc nhiên là vì tôi hiểu có được học vị Tiến sĩ lại được giải Pulitzer về báo chí là một khả năng không phải ai cũng có, nhưng sao lại dung dị và vội vã về phương diện đưa ra luận cứ như thế, nhất là luận cứ ấy không có bằng chứng hậu thuẫn. Chắc phải có một điều gì ảnh hưởng đến óc thuần lý của ông chăng? Hay liệu đây có phải là do định kiến hay thiên kiến đối với một dân tộc đang có một chính phủ độc tài như Việt Nam hay không? Tôi tin rằng người dân Việt Nam cũng chẳng ưa cái chính phủ ở Hà Nội bao nhiêu, nhưng họ làm gì hơn được?

Sau khi gợi những hình ảnh nghiêm trọng về sự tàn phá môi trường ở Việt Nam nói trên, đến nỗi “không còn thấy chó ở ngoài đường”“chim không còn để cất tiếng hót”, giáo sư Joel Brinkley than phiền quan niệm lạc hậu về môi trường của người Việt Nam:

Người Việt Nam nếu muốn hòa nhập với toàn cầu thì có trách nhiệm lớn hơn nhiều so với niềm tin không có chứng cứ khoa học là những con thú quý hiếm có thể chữa được bệnh, hay phải có đồ chạm khắc bằng ngà mới oai. Họ phải vượt qua được điều đó khi họ là một phần của hệ thống toàn cầu, kinh tế toàn cầu và công dân toàn cầu ...Hơn thế nữa, những đồ chạm khắc bằng ngà ở các nước Đông Nam Á vốn cũng là biểu tượng của sự giàu có, và khá phổ biến dưới hình thức quà tặng trong xã hội Việt Nam. Như vậy, chúng tôi đang đấu tranh với những gì được xã hội chấp nhận, rất khó khăn, rất khó để thay đổi ngược lại suy nghĩ đó...”

Ý kiến của tôi: Tôi chia sẻ suy nghĩ này với giáo sư Joel Brinkley. Ngày nay sở dĩ nước Mỹ có được những luật bảo vệ môi sinh rất khắt khe cũng vì họ đã trải qua những tập quán bừa bãi, vô trách nhiệm về môi trường của một khối người Mỹ vốn có những quan niệm lạc hậu về sinh thái. Dần dần do kinh nghiệm, nền văn minh tân tiến và sự thuyết phục của những nhà tranh đấu với những gì đã trở thành tập quán được xã hội chấp nhận, người Mỹ dần dần mới có thể hình thành và chấp nhận được những qui định pháp lý của việc đánh bắt các động vật hoang dã.

Tôi cũng đồng ý với giáo sư Joel Brinkley là việc làm này rất khó khăn và đòi hỏi một thời gian thuyết phục lâu dài. Chẳng hạn như các tổ chức bảo vệ môi sinh và động vật hoang dã từ lâu đã cố thuyết phục người Nhật Bản bỏ lối ăn sushi bằng thịt cá voi, nhưng chưa mảy may có một thành quả nào. Thế nhưng không hiểu tại sao mới đến Việt Nam có 10 ngày mà ông đã vội cho Việt Nam là một trong những quốc gia gây trở ngại cho những người như ông trong công cuộc bảo vệ sinh thái toàn cầu?

Tôi đã từng xem rất kỹ và mê 2 chương trình trên kênh Travel, một của ông Anderson Zimmerman có tựa đề “Bizzare Foods” và một của ông Anthony Bourdain nhan đề “No Reservation”, tôi thấy tại những quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, Philippines, Cambodia, Lào, Papua New Guinea, các nước Phi châu, Nam Mỹ... việc giết hại các động vật hoang dã và dùng chúng để chế biến thực phẩm coi bộ nghiêm trọng hơn Việt Nam nhiều. Lẽ ra, ông Joel Brinkley nên tham khảo với các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã trước khi ông đến Việt Nam và tôi tin rằng nếu ông có tham khảo thận trọng thì trong một chừng mực nào đó ông có thể đưa ra những khuyến cáo cho chính quyền Việt Nam tại Hà Nội để họ phải có hành động tích cực hơn về phương diện pháp luật nghiêm cấm việc giết các loài thú hoang dã hiếm quí, tránh được những kết luận vội vã khiến không những cộng đồng mạng ở Việt Nam và cả những tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế như Tổ Chức TRAFFIC tỏ ra thất vọng và cáo buộc ông là người từng được Giải Pulitzer về báo chí mà bài viết của ông lại thiếu giá trị báo chí. Điều này, quả thực, không ai hiểu nổi trừ phi giải thích rằng những điều ông đưa ra có là hậu ý.

Và cuối cùng, giáo sư Joel Brinkley viết một câu rất là giản dị “thói quen ăn thịt của người Việt khiến họ hung hăng hơn các dân tộc láng giềng như Lào, Campuchia hay các nước Đông Nam Á chủ yếu ăn cơm...”.

Ý kiến của tôi: Tôi thấy nguyên nhân và hậu quả mà giáo sư Joel Brinkley dùng để giải thích lý do tại sao người Việt Nam hung hăng hơn người Lào, người Campuchia và các nước Đông Nam Á khác trong việc giết hại các động vật hoang dã. Liệu ông đã tới Cánh Đồng Chum, tới Pakse, tới Luang Prabang để xem người Lào bẫy chồn hương, nhím, sóc, săn cọp, gấu đem bán cho các nhà buôn Thái Lan chưa? Và liệu ông đã tới Mỏ Vẹt, Snoul, Ratanakiri và khu rừng tậm ở Mondulkiri ở Campuchia để thấy những thợ săn loài khi đỏ đít mà người Trung Hoa rất thích dùng xương của chúng để nấu cao chưa? Ngay từ những năm 70, khi làm phóng viên theo chân quân đội VNCH hành quân sang Campuchia, tôi đã chứng kiến được những gì xảy đến cho động vật hoang dã ở đất nước này. Trước đó nhân chuyến công tác rất lâu ở Vạn Tượng, vào năm 1965, tôi cũng đã có dịp đi nhiều nơi ở Lào và cũng đã hiểu số phận của những động vật hoang dã trong tương lai của ba thập niên tới kể từ thời điểm đó. Bây giờ tình hình có thể bớt tệ hơn, nhưng nếu so sánh như giáo sư Joel Brinkley là không nên!

Người Mỹ có thói quen ăn thịt không? Có chứ, thậm chí còn ăn nhiều hơn các dân tộc khác. Bánh mì và rau chỉ là thứ họ độn thêm cho có chất fiber thôi. Nhưng liệu họ có hung hăng đến nỗi giết hết các động vật hoang dã để ăn không? Tất nhiên là không rồi. So với nhiều quốc gia khác, Mỹ có luật bảo tồn thiên nhiên và động vật hoang dã khắt khe nhất. Vì thế thói quen ăn thịt và tính hung hăng của một dân tộc chẳng có liên hệ gì với nhau. Người Mỹ nổi tiếng là yêu động vật, nhưng hàng ngày trên màn ảnh truyền hình, các tổ chức cấp cứu động vật như chó, mèo bị chủ hành hạ, bị bỏ rơi, bỏ đói gào đến rát cổ họng để những người thương yêu chó mèo thực sự nhận nuôi nếu không thì phải cho chúng “ngủ” (cho ngủ và giết thực tế thì cũng chỉ là những phương tiện làm cho chúng chết, nhưng ngủ thì êm ả hơn bị giết mà thôi). Cho nên, nhiều người Việt Nam viết thư cho đài BBC bày tỏ sự tức giận đối với Joel Brinkley là có lý của họ. Họ nói thẳng ra rằng người Việt Nam chỉ có một bộ phận nhỏ ăn thịt chó, thịt mèo, thịt chuột, thịt chim, thịt rùa, thịt rắn, baba, lươn. Đa số tuyệt đối cũng chỉ ăn thịt heo, thịt bò, thịt gà, trừu, dê như người Mỹ và thói quen của họ cũng thuộc vào dòng văn hóa ăn cơm là thực phẩm chính như Lào, Campuchia và hầu hết các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á.

Không phải người Việt Nam nào cũng thích loại thực phẩm lạ mà Zimmerman gọi là “Bizarre Foods”. Những hoạt động ăn thịt chó, thịt chuột hay thịt chim mà ngày nay người ta bắt gặp tại Việt Nam diễn ra ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam trước cũng như sau 30-4-1975, nhưng đó chỉ là hiện tượng chứ không nhất thiết là bản chất của người Việt Nam. Nếu có một sự so sánh nào đó về chuyện đánh bắt thú hoang dã ở thời điểm trước 30-4-1975 ở Miền Nam và sau 30-4-1975 trên toàn cõi Việt Nam thì cũng chỉ là những so sánh trong câu chuyện thường nhật, vui miệng đùa cợt với nhau chứ không phải là những so sánh nghiêm túc từ những con số thống kế hay số ước lượng có căn cứ.

Tôi tin rằng với một người có học vị cao như Joel Brinkley và cũng có một thời là nhà báo, ông dư sức hiểu rằng viết ra một đánh giá như trên là không được thuyết phục và không phải là tác phẩm báo chí, một khu vực hoạt động mà những nguyên tắc căn bản về bằng chứng đi kèm theo luận cứ phải được tôn trọng.

Nhưng tại sao ông cứ phải viết như thế? Phần đông những người làm mạng cả Việt lẫn Mỹ đều cho rằng có lẽ vì ghét Việt Nam cho nên giáo sư Joel Brinkley có cái nhìn thiên lệch đó. Nhưng thay vì ông phải qui trách cho nhà cầm quyền ở Hà Nội đã không thể kiểm soát và điều tiết những hoạt động này thì ông lại đổ lỗi cho người Việt Nam. Đến nỗi rằng ngay cả bà Naomi Doak, Đại diện của Tổ Chức TRAFFIC, một tổ chức quốc tế của có nhiệm vụ bảo vệ động vật hoang dã và môi trường cho rằng việc giết thú hoang dã là vấn đề của thị trường và văn hóa của mỗi dân tộc chứ không phải là do hung dữ mà họ giết chúng. Bà Naomi Doak tỏ ra thất vọng vì so sánh không đúng của Brinkley về việc giết thú hoang dã có thể làm thương tổn đến cả một dân tộc. Khi có người muốn ăn thịt chó thì sẽ xuất hiện người bán thịt chó, khi có người cho rằng sừng tê giác có thể trị bá bệnh thì có người săn trộm tê giác, khi có người coi ngà voi là thể hiện sự sang trọng của gia đình thì có kẻ đi săn voi cắt ngà để bán, khi mấy ông da trắng thích dùng chân voi để làm túi đựng cần đánh golf thì có kẻ đi săn voi chỉ để cưa 4 chân và cắt 2 sừng. Điều dễ thấy nhất là không phải do ăn thịt mà những thợ săn trở thành hung dữ đi săn thú vật hoang dã chỉ để thỏa mãn tính hung dữ của mình.

Khi có người tin rằng uống mật gấu có thể giải tỏa đau nhức, máu bầm, củng cố bộ máy tiêu hóa thì sẽ xuất hiện nhiều thợ săn gấu. Khi có nhiều người khoái cọp thứ thiệt nhồi bông hay coi tấm thảm bằng da cọp như của gia bảo thì lập tức nhiều thợ săn túa vô rừng bất chấp nguy hiểm để thỏa mãn nhu cầu thị trường chứ không ai dại chỉ thỏa mãn tính hung hãn của mình vì hiện nay luật lệ của nhiều quốc gia kết án rất nặng việc săn bắn thú hoang dã.

Bà Naomi Doak cho rằng Việt Nam được xếp hạng khá thấp trong việc bảo vệ động vật hoang dã, nhưng điểm son nhỏ của họ là bảo vệ được loài voi và trâu rừng. Bà nhấn mạnh rằng trong việc chê bai, cần phân biệt động vật hoang dã và gia súc. Không nên lầm lẫn giữa việc giết thú vật được được nuôi dưỡng và cho sinh sản với động vật hoang dã khi đưa ra lời chỉ trích để giữ sự công bằng. Nhiều dân tộc quan niệm chó, mèo cũng chỉ là động vật nuôi trong nhà, giết chúng đi chẳng tội vạ gì vì bất quá chúng cũng chỉ như heo, bò, gà, lợn. Nhưng nhiều dân tộc quan niệm chó mèo cũng có những quyền và người nuôi không được giết hay ngược đãi. Hai quan niệm này chưa tìm được mẫu số chung. Cho nên mới có cảnh người thích ăn thịt chó thì cứ ăn mà người thương yêu và bảo vệ cho mèo thì cứ bảo vệ. Nó thuộc về vấn đề văn hóa của mỗi dân tộc. Cũng như người Tây phương chê nước mắm, sầu riêng của Việt Nam có mùi thối và người Việt thì chê phó mát camembert, endouilles của người Pháp có mùi khẳn khó chịu, nhưng thực ra việc việc dùng phó mát và nước mắm chỉ là văn hóa ẩm thực khác nhau của hai dân tộc và để cho hòa bình cả người Việt Nam lẫn người Pháp không sử dụng thực phẩm của nhau thì thôi, không nên chê nhau. Nhập gia tùy tục. Người Việt Nam ở trong nước nhìn thân phận của chó, mèo khác với người Việt Nam ở Mỹ do văn hóa đã bắt đầu khác nhau, không có một tiêu chuẩn chung nào để phê phán, chỉ trích hay ủng hộ ngoài tiêu chuẩn luật pháp của mỗi quốc gia mà mình đang sinh sống.

Cộng đồng mạng Việt Nam phản đối giáo sư Joel Brinkley không phải vì ông chỉ trích Việt Nam là quốc gia đứng hạng thấp trong việc bảo vệ các động vật hoang dã mà là vì ông đã quá đà trong lời chỉ trích khi cho rằng thói quen ăn thịt khiến người Việt Nam hung hãn hơn trong việc giết động vật hoang dã hơn người Lào, người Campuchia và một số dân tộc khác ở Đông Nam Á chủ yếu ăn cơm. Nếu ông dùng nhóm chữ “một bộ phận người Việt Nam...”, tôi nghĩ sẽ không có vấn đề gì. Sự khinh xuất trong những lời chỉ trích nhắm vào một dân tộc và bảo họ là hung hãn là một thứ boomerang của thổ dân Úc, rất dễ quay ngược lại mình. Thời chiến tranh, một đài truyền hình của chính phủ Thái Lan khi sang thu hình tình hình chiến trường Campuchia nhân tiện ghé thăm Saigon năm 1970. Nhưng không hiểu sao khi về nước họ tuyên bố với báo giới tại Bangkok rằng “thủ đô Saigon là một ổ đĩ điếm”. Những cách nhìn vô trách nhiệm kiểu này suýt gây ra căng thẳng ngoại giao giữa VNCH và Thái Lan là quốc gia có quân đội Hoàng gia Thái Lan đang tham chiến. Thực tế, vào thời chiến với sự hiện diện của nửa triệu lính Mỹ, miền Nam Việt Nam đã phải đối mặt với tệ nạn xã hội và đĩ điếm khá nặng nề, nhưng làm truyền thông mà tuôn ra những lời tuyên bố mang tính tổng quát hóa lại thiếu bằng chứng kèm theo rất dễ bị phiền.

Cộng đồng mạng ở hải ngoại kể cả Hoa Kỳ chỉ trích cũng nhiều mà bênh giáo sư Brinkley cũng lắm. Tại Little Saigon, ký mục gia Huy Phương của tờ Người Việt viết:

Phản ứng quá đà với nhận xét của ông Joel Brinkley là tự ái dân tộc không phải chỗ. Nhiều người đã chê giáo sư dốt, đòi Đại Học Stanford cách chức ông, bắt ông xin lỗi, hay rút bài của ông xuống, y như Việt Nam đã hành xử với đảng viên của họ. Họ còn kết tội ông là ‘kỳ thị chủng tộc’, ‘nên ra khỏi ngành giáo dục’. Giá mà ông ca tụng dân Việt Nam hạnh phúc đứng vào hạng ba thế giới, dẫn đầu cả Mỹ, Canada, Úc thì người Việt đã công kênh ông lên và gọi ông là người bạn tốt...”

Ý kiến của tôi: Tôi nghĩ rằng cái lối chê bai bằng cách nâng quan điểm như trên chẳng có gì lạ. Trong một nền báo chí tự do, chê bai chỉ trích là những điều đáng được khuyến khích, nhưng lại còn buộc người ta phải từ chức không được dạy học nữa thì quả là quá đáng. Chỉ có điều nếu ký mục gia Huy Phương cho rằng phản ứng nói trên là từ những nhà làm mạng người Việt Nam ở trong nước thì một câu hỏi khác được đặt ra liệu viết đoạn văn trên, ông muốn nói đến nhân dân Việt Nam hay chính quyền Việt Nam Cộng Sản? Nếu ông nói nhân dân Việt Nam, trong đó có cả họ hàng bà con chúng ta, và vội cho rằng họ là những người thích người ta ca tụng hay thích được uống “mật ong” thì cũng tội cho họ. Dân Việt Nam từ nhiều thập niên qua bị Đảng CS lừa nhiều lần nên họ cũng đã chán những lời đường mật, chỉ kẻ đi lừa người dân là đảng Cộng sản Việt Nam mới “kỵ” thuốc đắng, dù nó rã tật. Ấy thế mà trong cộng đồng của chúng ta cũng vẫn còn một số “nhân sĩ”, “nhà đấu tranh” bắt chước y chang Cộng sản: Biểu tình, đả kích, lên án gay gắt, đòi đuổi người này trừng phạt người kia, thậm chí đòi đuổi cả tổng giám đốc công ty báo tư nhân, và đòi lập ủy ban để kiểm duyệt bài vở báo chí Việt ngữ trong cộng đồng và thậm chí còn dự trù tiến thẳng từ chủ nghĩa quá đà lên chủ nghĩa chuyên chính!

Ký mục gia Huy Phương viết tiếp:

Nhà văn Edmondo De Amicis dạy trẻ con phải có tự ái dân tộc, nhưng không có chỗ nào dạy con người ta phải biết hổ thẹn vì những xấu xa của đất nước mình. Yêu tổ quốc, căm giận, biểu tình lên án bọn xâm lăng đất nước mình, mà bị chính quyền, đàn áp, bỏ tù, đất nước ấy có đáng hổ thẹn không? Đòi hỏi quyền làm người, nói lên sự thật, là hành động chống phá tổ quốc, sự thật ấy có đáng xấu hổ không. Phải biết hổ thẹn vì những khiếm khuyết của đất nước mình, biết sửa sai may ra tương lai đất nước mới khá lên được. Nhà tư tưởng Tuân Tử có nói: Người chê ta mà chê phải, là thầy ta. Người khen ta mà khen phải, là bạn ta. Những kẻ vuốt ve nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy!”

Ý kiến của tôi: Ký mục gia Huy Phương đem Edmondo de Amicis mà ghép với Tuân Tử người Tầu coi bộ hơi không thích hợp. Amicis thì chuyên viết những chuyện về tình người, về sự cao thượng. Còn Tuân Tử theo lối mòn bảo thủ của người Tầu thời cổ sử Trung Hoa. Chọn cả hai nhân vật này làm thầy đều sẽ dẫn đến chỗ bế tắc. Trong chính trị, biết người, biết ta và tự tin ở khả năng của chính mình thì không nhất thiết phải chọn ai là thầy và cũng chẳng cần ai khen hay chê. Nếu chúng ta mạnh thật, biết chắc là mình không làm điều gì sai thì chẳng cần theo ai hay nghe theo ai, khen chê cũng không đặt nặng thành vấn đề.

Mới đây một anh Tầu chủ một nhà hàng ở Bắc Kinh điên loạn vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan treo một cái bảng ra bên ngoài cửa tiệm mình bằng chữ Hán và Anh nữ “Không tiếp khách Nhật, Philippines, Việt Nam và chó”. Đây là một anh Tầu chủ nhân của một tiệm nhỏ trong số mấy chục triệu tiệm ăn lớn trên đất nước 1.5 tỷ dân, chẳng phản ảnh được điều gì ngoài cái chất điên của một anh tiểu hán. Những người điên kiểu này thì nước nào cũng có, chẳng có gì đáng nói, trừ phi 1.5 tỷ dân Tầu chê tiền đô la, chê buôn bán với nước ngoài, nhất định không thèm lập các Chinatown hay đóng cửa tất cả tiệm Tầu ở nước ngoài, chê xuất cảng lao động rẻ và nhất định rút tất cả kiều dân của mình về nước.

Chính người da đen ở Miền Nam và Đông Hoa Kỳ đã từng bị những ông da trắng điên loạn vì óc kỳ thị “Cấm chó và người da đen” vào công viên, nhưng họ vẫn chịu đựng để chờ tới một ngày có một người trong số họ là Barack Obama mở một trang sử mới cho Hiệp Chủng Quốc. Cho nên tôi viết về nhận định của Joel Brinkley cũng vạch ra cái đúng và cai sai trật hay quá đáng trong suy nghĩ của ông ta chỉ vì Brinkley là một trí thức Hoa Kỳ, chứ nếu Joel Brinkey chỉ là chủ một tiệm ăn hay một anh lái buôn thì kể số gì.

Ngày nay, vẫn còn người bên phía thắng cuộc gọi chúng ta là ngụy thì cũng đừng giãy nảy lên chửi bới với những lời lẽ thậm tế một cách không những vô ích, có khi lại còn bị chê giống anh chủ tiệm tầu ở Bắc Kinh. Vấn đề là làm sao chúng ta có người khi hô lên một tiếng, thì lập tức có khoảng 2 triệu người Việt Nam đổ xuống đường phố Hà Nội biểu tình như ở hải cảng Gdansk của Ba Lan trong cuộc Cách Mạng Nhung hoặc nếu thấy mình không đủ kiên nhẫn và lãnh tụ để làm công việc này thì ít nhất cũng nên cắn răng theo chính sách tiếp cận trường kỳ mai phục để thay đổi Việt Nam dần dần. La lối, chửi rủa mãi rồi cũng chỉ đi vào lối mòn của bế tắc, nơi mà nhìn tới nhìn lui cũng chỉ còn biết lôi đồng cảnh của mình làm kẻ thù mà thôi.

Vũ Ánh

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn